
Vườn hoa nhà tôi tuy nhỏ nhưng có đủ tường vi, trúc đào, đinh lăng, vàng anh, nhài hồng, cúc các loại... Điều làm tôi nhớ nhất là những bữa cơm chiều nhạt nắng, những ngày ấm áp hoặc nóng bức trên chiếc chiếu trải trên mảnh sân nhỏ dưới bóng trúc đào. Và cũng trên chiếc sân nhỏ dưới bóng trúc đào ấy, ngày hội Đền Đô (còn gọi là Đền Lý Bát Đế ở làng Đình Bảng, Bắc Ninh) tháng 3 ở làng tôi, cha tôi thường cùng ông Yến, vô địch cờ tướng Bắc - Trung - Nam, bạn cờ của cha tôi, chơi cờ và uống rượu, đàm đạo chuyện đời. Tôi còn nhớ, ông Yến thường hút thuốc lá Esquire, vỏ in hình nửa người đội mũ Feurtre và chính ông Yến cũng luôn đội chiếc mũ Feurtre màu xám. Cờ cha tôi không thể bằng ông nhưng điều mà cha tôi ca ngợi ông lại là những nước cờ luôn phóng khoáng, bay bướm, những nước cờ tài tử của một tâm hồn nghệ sĩ... Nghe cha tôi nói thế, đầu óc non nớt của tôi cũng cảm nhận như thế và mong được mau lớn để có phong thái như ông.
Lần cuối cùng, hai cha con tôi ra chợ Đồng Xuân mua chậu hoa là ngày Tết cuối năm 1945, đầu năm 1946, tức Tết Bính Tuất. Tôi còn nhớ, ra khỏi cửa chợ, mấy tên lính Tàu ô lăm lăm súng trường, bắng nhắng quát tháo cha con tôi và bác phu xe bê chậu hoa. Cha tôi làu bàu: “Chẳng qua thời thế, chứ mười thằng chúng mày, tao cũng không coi là cái gì đâu!”. Về sau, mấy ông chú rể mới cho tôi biết hồi còn buôn bán ở vùng Tà Lùng, Thủy Khẩu, biên giới Trung Quốc, cha tôi không ngán ai vì ông... giỏi võ. Từ đó, tôi cũng “hạ” đi tính xốc nổi của mình trong cách ứng xử với bạn bè, với những người xung quanh.
Tết năm sau, bắt đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Khi đã cho gia đình gồng gánh đi tản cư, mang theo những đồ dùng cần thiết, hoặc đắt tiền, hoặc dễ bán, dễ bị lấy trộm, cha tôi và tôi dỡ bỏ những cây hoa, đất trồng, bê những chậu, đôn, thống, tất cả đến hai chục chiếc và ấm chén, cốc tách quý xuống chiếc bể nước mưa to, dài khoảng 6 m, ở sân sau dưới nhà ngang. Cha tôi lội xuống, còn tôi ở trên chuyền xuống cho cha từng cái một để cha mang vào cuối bể dìm sâu xuống đáy nước, vì còn chậu ắt còn hoa.
Mấy năm sau, ở nơi tản cư miền Trung du, tôi được tin đạn đại bác câu trúng chiếc bể nước mưa trong một trận càn.
Rồi hòa bình lập lại, khi về, tất cả nhà trên, nhà khách, nhà ngang, nhà bếp chỉ còn là một bãi gạch ngói, vôi vữa hoang tàn. Mấy cây trúc đào và tường vi vẫn nở hoa trước gió.
Cha tôi yêu hoa, dĩ nhiên rồi, và chưa bao giờ tôi hỏi cha tôi tại sao hồi đó cha lại chỉ lo cất giữ những chậu hoa, đôn, thống mà không nghĩ đến những thứ khác, như bốn câu đối sơn then thếp vàng và hai bức hoành phi, chiếc giường gỗ mít trong buồng nhà trên, nhất là chiếc tủ đứng bằng gỗ gụ rất đẹp mà cha mẹ tôi mua được trong một buổi đấu xảo. Tôi chỉ nghe cha tôi nói buồn buồn: “Tao biết ai đã khênh trộm đem bán cho ai bên Phù Ninh rồi”.
Thời gian đi qua, tuổi đã tám mươi rồi. Tình yêu hoa trong tôi cũng không được như cha nhưng tôi cứ nhớ lời cha tôi thường dạy là phải yêu quý cây cỏ như yêu quý con người. Nếu ngày nào đó, con người vì mình mà tàn phá cây cỏ thì đó là thảm họa. Vào khoảng giữa năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài thơ kêu gọi nông dân trồng cây: Muốn làm nhà cửa tốt/ Phải ra sức trồng cây/ Chúng ta chuẩn bị từ nay/ Dăm năm sau sẽ bắt tay dựng nhà. Đầu năm 1960, Người chính thức phát động phong trào Tết trồng cây trong cả nước: Mùa Xuân là Tết trồng cây/ Làm cho đất nước càng ngày càng Xuân. Tôi rất mừng và mỗi lần tham gia Tết trồng cây ở mỗi độ Xuân về, tôi đều nhớ đến lời dạy của cha ngày nào.
Xuân cứ về và chúng ta cứ trồng cây gần nửa thế kỷ qua với cờ, đèn, kèn, trống rất khí thế. Nếu không được sống đến ngày này, tôi nghĩ con cháu mình sẽ được sống vui vầy dưới những tàn cây râm mát chứ không phải dưới bóng trúc đào nhỏ nhoi ở chiếc sân nhỏ nhà tôi của một thời thơ dại.
Bình luận (0)