Thầy thuốc cần thực hơn danh

Tin mới

25/02/2015 22:03

Gần đây đã xuất hiện một hiện tượng không biết là vui hay buồn trong đào tạo sau ĐH, đặc biệt là trong lĩnh vực y học. Đó là “phong trào” thi và làm luận án tiến sĩ y học.

Nhiều bác sĩ (BS) công tác trong những lĩnh vực chẳng cần gì đến bằng tiến sĩ (TS) cũng cố gắng thi, cố gắng học để rồi sau bao nhiêu khổ ải có được tấm bằng TS y học về một chuyên ngành chẳng giúp gì cho công việc của mình.

Trong giới BS, rất nhiều người cố gắng lấy về tấm bằng TS hoặc ít nhất là thạc sĩ (ThS) để in vào tấm danh thiếp bên cạnh tên của mình. Đã có những bệnh viện (BV) lớn, trong 12 BS thì có tới 11 TS, 1 ThS, chẳng có ai là BS chuyên khoa cả dù chức năng chính của khoa này là điều trị cho bệnh nhân, còn công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học chỉ là thứ yếu.

Có lần chúng tôi chấm đề cương chuyên khoa cấp II cho 2 BS từng là cựu nội trú BV. Đề cương trình bày khá tốt, nhiều người hỏi tại sao không làm luôn TS? Thế nhưng, ở BV, công tác của 2 vị BS này chẳng liên quan gì đến học vị TS cả! Ai cũng tiếc cho họ nhưng chúng tôi thì nghĩ họ đã đi đúng hướng và hơn ai hết, họ hiểu họ cần gì, nền y học và nền y tế nước nhà cần gì. Họ là những phẫu thuật viên lồng ngực và tim mạch, họ điều trị và phẫu thuật cho bệnh nhân, họ cần những kỹ năng về thực hành hơn là lý thuyết.

So với các nước trong khu vực, số lượng người có bằng cấp ThS và TS của chúng ta, đặc biệt là trong ngành y, đã quá nhiều. Tuy số lượng nhiều nhưng chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học của chúng ta còn nhiều vấn đề so với các nước.

Ở các nước như Pháp, Mỹ, Đức..., đào tạo y khoa sau ĐH luôn có một chính sách phân định rất rạch ròi. Việc đào tạo ThS hay TS y học chỉ dành cho các ngành nghiên cứu và các chức danh giảng dạy ở trường ĐH; còn trong thực hành BV hằng ngày, họ chú ý đến đào tạo thực hành bằng cách tăng cường huấn luyện BS nội trú BV. Tất cả những thầy thuốc muốn làm BS chuyên khoa hay làm việc ở các BV đều phải tốt nghiệp BS nội trú. Đối với những BS học xuất sắc có thể được giữ lại trường học thêm để làm công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Các chức danh này phần lớn dành cho các ngành cận lâm sàng, do đó rất khó tìm một TS y học ở các chuyên khoa lâm sàng. Việc phân công này rất hợp lý và việc đào tạo rất liên tục, không cần thâm niên, do đó ngành khoa học của nước họ có được những nhà nghiên cứu khoa học rất trẻ, đủ sức đi sâu vào các lĩnh vực cần nghiên cứu.

Một BS muốn làm công tác điều trị tại BV phải có bằng chuyên khoa và bằng này thiên về thực hành. Ở Mỹ, muốn phẫu thuật cho một bệnh nhân, phẫu thuật viên phải có bằng chuyên khoa; bằng TS hay ThS y học không có giá trị gì trong thực hành điều trị cho bệnh nhân. Một TS y học dù giỏi cách mấy cũng không được phép điều trị cho bệnh nhân, đặc biệt là phẫu thuật cho họ, nếu không có bằng chuyên khoa đi kèm.

Việc phân định rạch ròi trong đào tạo giúp cho nền y khoa của các nước tiên tiến phát triển và tránh được lãng phí trong đào tạo. Chính vì vậy, cần thay đổi quan niệm trong đào tạo y khoa sau ĐH sao cho phù hợp với thông lệ quốc tế cũng như biết rút kinh nghiệm của các nước đi trước là một đòi hỏi cấp thiết trong cải cách giáo dục hiện nay. Việc thay đổi quan niệm này không chỉ ở những người quản lý hay hoạch định chính sách mà cả ở giới thầy thuốc chúng ta - những người muốn đi học để nâng cao trình độ.

PGS-TS NGUYỄN HOÀI NAM (Trường ĐH Y Dược TP HCM)
Bình luận

Đăng nhập với tài khoản:

Đăng nhập để ý kiến của bạn xuất bản nhanh hơn
 
 
Hoặc nhập thông tin của bạn

Mới nhất Hay nhất