Học từ những nhà báo lớn

Tin mới

17/06/2017 21:31

Ở Việt Nam và các nước có nền báo chí tiên tiến có những cây bút từng làm xoay chuyển tình thế bằng sự cách tân trong nghề báo, ảnh hưởng lớn đến những thế hệ đi sau mà chúng ta phải học

Ở Việt Nam, ngoài những nhà báo như Huỳnh Thúc Kháng, Phan Khôi, chúng ta còn có những cây bút lẫy lừng khác: Hải Triều, Phan Thanh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Vũ Bằng… Ở đây, tôi chỉ nhắc đến một trường hợp khá đặc trưng là Hoàng Tích Chu (1897-1933) bởi cụ đã để lại dấu ấn đặc sắc trong lịch sử báo chí Việt Nam. Ông là chủ bút 4 tờ báo lớn khi còn khá trẻ, đồng thời đã làm lột xác cách viết báo, làm báo đương thời.

Ông tổ văn mới

Hoàng Tích Chu quê huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, lớn lên trong một gia đình quan lại. Ông theo học chữ Hán từ nhỏ rồi học tiếng Pháp. Năm 1921, ông bắt đầu nghề báo bằng chân thư ký cho Tòa soạn Tạp chí Nam Phong. Tháng 7 năm đó, Báo Khai hóa của nhà tư sản dân tộc Bạch Thái Bưởi ra đời đã chọn ông làm chủ bút. Với bút danh Kế Thương, Hoàng Tích Chu đã trở thành cây bút đình đám trong làng báo.

Học từ những nhà báo lớn - Ảnh 1.

Chủ bút Đông Tây tuần báo - cụ Hoàng Tích Chu

Năm 1923, Hoàng Tích Chu vào miền Nam và sang Pháp học nghề báo đến năm 1927 mới quay về nước. Kết quả là một chuyên luận "Câu chuyện nhựt trình trong hồi cách mạng nước Pháp" (NXB Xưa Nay, Sài Gòn, 1927). Lý tưởng làm báo của Hoàng Tích Chu: "Nếu đã thật gọi là lấy thân hiến nước thì dù bằng ngòi bút hay cây gươm, đôi đàng đều có thế lực ngang nhau" - như một tuyên ngôn của ông lúc đó đối với quyền tự do ngôn luận. Dưới ách thực dân mà ông đã viết như thế này: "Đời không có tự do là đời bỏ đi. Người có giá trị vì người có tự do. Tự do, làm người ai cũng có từ thuở mới lọt lòng. Khi nào mất, có quyền đòi, không phải xin, xin chẳng ai cho, đòi kỳ bằng được"…

Học từ những nhà báo lớn - Ảnh 2.

Nhà báo Pháp Jean Lacouture. (Ảnh tư liệu của tác giả)

Ngày 1-6-1927, Hà thành ngọ báo ra đời tại Hà Nội do Hoàng Tích Chu làm chủ bút. Trong lúc câu chữ trên báo chí nước ta còn lê thê theo lối biền ngẫu, các bài báo giảng giải luân lý, triết học rối rắm khó hiểu mà người bình dân không đọc được thì Hoàng Tích Chu, cùng với Phan Khôi, đã thực hiện một loạt thay đổi như sử dụng lối văn mới, gọn gàng nhưng nhiều thông tin, xã luận do ông viết ngắn và sát thực với đời sống, tin tức được cập nhật lên trang đầu thay vì đưa vào các trang trong. Do mâu thuẫn với chủ báo, tháng 11-1929, Hoàng Tích Chu đã cùng với Đỗ Văn đứng ra thành lập tờ báo Đông Tây do mình làm chủ và nổi tiếng ngay lúc đó. Với bút danh là Văn Tôi, Hoàng Tích Chu đề cập tới những vấn đề thiết thực hằng ngày của số đông dân chúng. Một loạt các mục mới và hấp dẫn như Hôm nay, Bia miệng, Chuyện lạ đường rừng, Trắng đen, Cuốn phim... và nhiều tranh ảnh minh họa phản ánh các khía cạnh đời thường đã làm cho tờ báo giàu lượng thông tin, gắn bó mật thiết với dân sinh, được người đọc ủng hộ. Tờ Đông Tây được đánh giá là báo bán chạy nhất miền Bắc lúc đó và tạo ảnh hưởng với nhiều nhà báo đương thời. Khi Đông Tây bị thực dân thu hồi giấy phép thì tờ Thời báo được tái bản, Hoàng Tích Chu lại được mời làm chủ bút và tiếp tục gây tiếng vang trong dư luận. Tiếc thay, Thời báo chỉ in được 20 số thì bị đình bản và Hoàng Tích Chu qua đời sau đó không lâu, vào dịp Tết năm 1933. Các báo đương thời, trong đó có Tràng An, đã xưng tụng ông là "ông tổ văn mới"!

Những cây bút nhiều thiện cảm với Việt Nam

Có hai nhà báo lớn khác, một ở Mỹ và một ở Pháp. Họ là những nhà báo có tầm ảnh hưởng thế giới nhưng đặc biệt lại gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử Việt Nam là Harrison E. Salisbury và Jean Lacouture…

Salisbury là cây bút nổi tiếng của tờ The New York Times, từng đoạt giải Pulitzer năm 1955. Ông vừa là nhà báo xông xáo và nhà cách tân nổi bật về mặt làm tin tức báo chí ở Mỹ từ thời Chiến tranh lạnh. Salisbury sang Hà Nội ngay trong lúc chiến tranh đang diễn ra ác liệt (1967) để gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông nghỉ hưu năm 1973 và mất tại Mỹ trong một cơn đau tim vào năm 1993, thọ 84 tuổi.

Là một nhà báo - tác giả, Salisbury luôn chứng tỏ sự gan dạ, dám nghĩ, dám làm và không mệt mỏi. Cuốn sách sau cùng của ông, "Heroes of My Time", xuất bản vào đầu năm 1993 đã được Michael Janeway, Hiệu trưởng trường báo chí Medill School of Journalism (Northwestern University), giới thiệu và đề nghị gọi Salisbury là một "tượng đài của nhà báo thẳng thắn, can đảm, chiến sĩ đơn độc chống lại khuynh hướng chính thống". Sau khi Salisbury mất, nhiều nhà phê bình danh tiếng đã xưng tụng ông như là một trong những nhà báo vĩ đại nhất thế kỷ XX!

Trong khi đó, tại nước Pháp, Jean Lacouture là một nhà báo đã để lại một di sản vô cùng phong phú với hàng ngàn bài báo và 71 cuốn sách viết về tiểu sử của nhiều nhân vật chính trị nổi tiếng của Pháp và thế giới trong thế kỷ XX như Charles de Gaulle, François Mitterrand, Chủ tịch Hồ Chí Minh…

Jean Lacouture tốt nghiệp Trường Khoa học Chính trị Paris, trở thành tùy viên báo chí của Tướng Leclerc vào cuối Thế chiến II. Sau chiến tranh, ông cộng tác với các báo Combat, France-Soir, Nouvel Observateur. Người ta gọi ông là một grand-reporter từ sự nghiệp gần 20 năm làm việc cho tờ báo nổi tiếng Le Monde và là một trưởng ban hải ngoại xuất sắc với những bình luận sắc sảo, bản lĩnh, độc lập…

Trước khi về Paris, vào những năm 1946 đến 1950, ông từng đến Tunisia và Morocco, rồi làm phóng viên về chiến tranh của Pháp tại Đông Dương. Theo nhận định của Thông Tấn Xã Việt Nam, chính nhờ công việc này, ông nhiều lần gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và hình thành quan điểm phản đối các chính sách thực dân và những cuộc chiến tranh tại các nước thuộc địa. Qua các bài báo, ông thể hiện quan điểm tiến bộ của mình. Các cuốn sách "Việt Nam giữa hai nền hòa bình" và "Hồ Chí Minh" được NXB Le Seuil ấn hành năm 1965 và 1967 tập hợp nhiều bài báo in trên Le Monde đã cảnh báo về sự bế tắc của các cuộc chiến tranh của cả Pháp và Mỹ, đồng thời bày tỏ nhiều thiện cảm với Việt Nam…

Điều quan trọng là với tư cách một nhà báo, những bài viết của Jean Lacouture trên báo Le Monde, theo đánh giá của các nhà quan sát chính trị, nó đã "tác động đến một bộ phận chính giới và người dân Pháp về cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam…". Năm 2003, Jean Lacouture đã được trao Giải thưởng lớn về lịch sử của Viện Hàn lâm Pháp và 10 năm sau, chính phủ Pháp tặng Huân chương Bắc đẩu Bội tinh vì những đóng góp vào tiến trình phi thực dân hóa những năm sau Thế chiến II… Khi Jean Lacouture qua đời ở tuổi 84, Tổng thống Pháp François Hollande đã gọi ông là "chiến sĩ đấu tranh không mệt mỏi cho tiến trình phi thực dân hóa", "một nhà báo độc lập, can đảm và đam mê, đã viết lại lịch sử Pháp đúng như những gì đã diễn ra"… 

TRƯƠNG ĐIỆN THẮNG
Bình luận

Đăng nhập với tài khoản:

Đăng nhập để ý kiến của bạn xuất bản nhanh hơn
 
 

Hoặc nhập thông tin của bạn

Mới nhất Hay nhất