Biết ơn “người tiên phong đưa Sài Gòn mở cửa”
Người đó là Tả quân Lê Văn Duyệt, Tổng trấn Gia Định thành từ năm 1812 cho tới ngày mất 1832 (trừ 4 năm gián đoạn từ 1816-1820).
Lịch sử Việt Nam không hiếm những tướng tài, những người cầm quân giỏi qua các triều đại. Lê Văn Duyệt đã từng là một tướng tài, một người cầm quân giỏi trong sự nghiệp phò Nguyễn Ánh lên ngôi đế vương.
Thời bình an và thịnh vượng
Nhưng nếu chỉ như thế, ông sẽ bị lịch sử "ít nhớ" ngay, bởi rất nhiều lý do. Những nước đi rắc rối của lịch sử khiến nhiều lúc người ta tưởng nó đứng hẳn về phía vua chúa, phía thống trị, vì một lẽ đơn giản trong nhiều lẽ, là những người chép sử luôn "ăn cơm chúa" thì phải múa... thế nào chứ? Nhưng cuối cùng, hóa ra, sau nhiều "nước biến" phức tạp của một ván cờ bất tận, lịch sử lại ngả về phía nhân dân - những người vừa góp phần quan trọng làm ra lịch sử vừa chép sử một cách vô thức, tự phát, những người đã làm nên "dã sử" để cân đối với "chính sử".

Đức Thượng công Lê Văn Duyệt được thờ tại Di tích lịch sử văn hóa lăng Lê Văn Duyệt ở TP HCM. Ảnh: Quốc Thắng
Chính "nhân dân sử" đã ghi nhận và đánh giá đúng công lao của Lê Văn Duyệt với tư cách người đứng đầu không chỉ Gia Định thành mà cả "đặc khu" Nam Bộ, gồm luôn tới Bình Thuận (cũ).
Quê quán ông nội tại Quảng Ngãi nhưng sinh ra và lập nghiệp ở Rạch Gầm (Mỹ Tho, bây giờ thuộc tỉnh Đồng Tháp), Lê Văn Duyệt thuộc một dòng họ đã hai lần "Nam tiến", mà Quảng Ngãi là nơi dừng chân lần đầu và Nam Bộ là nơi định cư lần sau. Như thế, Lê Văn Duyệt, cũng như bao nhiêu lưu dân khác, đã mang trong máu mình truyền thống mở cõi, truyền thống đã làm nên một nước Việt Nam hình chữ S như bây giờ. Dù Sài Gòn (Gia Định thành) đã được chính thức thành lập từ năm 1698 và Lê Văn Duyệt là vị Tổng trấn thứ bao nhiêu, sau ngày sinh Sài Gòn những 114 năm, nhưng có thể nói thời cai trị của ông là thời bình an và thịnh vượng của Sài Gòn và Nam Bộ, sau hàng thế kỷ chiến tranh, loạn lạc.
Tư tưởng vì dân
Trong đối nội, tư tưởng chủ đạo của Lê Văn Duyệt là vì dân. Ai cũng biết thuở đó, Sài Gòn và Nam Bộ là vùng đất mới rất lộn xộn, lại thêm bao năm chiến tranh, loạn lạc kéo dài, nên lòng người dân chưa tụ và chưa thể an cư. Chưa an cư thì làm sao lạc nghiệp? Vậy thì việc đầu tiên phải làm đối với vị Tổng trấn là phải an dân. Chính ở điểm này, ký ức nhân dân đã ghi nhận những công lao to lớn của Lê Văn Duyệt. Ông vừa là người thiết kế vừa là người trực tiếp thi công chính sách an dân. Tất nhiên, bằng pháp luật. Nhưng đây là một pháp luật có lòng nhân, có lòng vị tha, nó "đánh kẻ chạy đi, không đánh người chạy lại". Đây là một chủ trương đúng đắn của Lê Văn Duyệt: "Duyệt đặt ra những điều luật ngăn cấm minh bạch, ra lệnh cho các quan chức sở tại mật báo quan biết những tên giặc cướp để bắt ngay chúng về trừng trị, lại ra thông cáo cho giặc cướp biết là nếu chúng tự mình ra đầu thú sẽ được thu dụng. Từ đó trở đi, giặc cướp mới hết, dân cư nhờ thế được yên" (dẫn lại theo Lê Nguyễn, trích từ "Bản triều bạn nghịch liệt truyện" của Kiều Oánh Mậu).
Làm được chuyện đó, trước hết nhờ Lê Văn Duyệt rất hiểu đời sống cũng như tâm lý, tình cảm của lưu dân Nam Bộ, vốn là những người đồng hương, cùng cảnh ngộ với ông. Tổng trấn Lê Văn Duyệt là người đã tìm ra động lực của sự phát triển cả vùng đất mới. Động lực ấy trước tiên nằm ở ý chí quyết liệt, ở tính cách kiên cường của người dân trong cuộc mưu sinh đầy hiểm nguy và gian khổ. Hoàn cảnh càng khó khăn thì khát vọng lập nghiệp càng mạnh mẽ, càng kích thích ở họ những sáng kiến nhằm khai thác và chung sống với thiên nhiên, càng hun đúc nghị lực cũng như làm cho tâm tính họ khoáng đạt, vị nghĩa.

Di tích lịch sử văn hóa lăng Lê Văn Duyệt
Từ chủ trương mở cửa lòng người ấy, Lê Văn Duyệt đã có những chủ trương mở cửa về kinh tế, khuyến khích nhân dân Gia Định thành làm ăn, buôn bán. "Phi thương bất phú", dưới thời ông, Sài Gòn có tốc độ "đô thị hóa" đáng kể. Một khi "nội thương" đã phát triển, tất dẫn tới nhu cầu phát triển "ngoại thương". Có thể nói sự phát triển ngoại thương thời Lê Văn Duyệt gắn liền với chính sách đối ngoại mà ông thực thi - một chính sách được coi là cởi mở nhất, trong điều kiện chính quyền trung ương nhà Nguyễn bắt đầu có những chủ trương "bế quan tỏa cảng" và "cấm đạo" (lúc đó là đạo Thiên Chúa). Có cảm giác thời đó, Sài Gòn mới thực là "cửa ngõ mở ra thế giới", với những phái bộ phương Tây thường xuyên ghé thăm và trao đổi, "giao lưu", với tàu thuyền Á, Âu buôn bán tấp nập, với mối bang giao đặc biệt cùng Chân Lạp (Campuchia), hòa hiếu trên thế mạnh với Xiêm La (Thái Lan). Cả Miến Điện cũng cử sứ bộ sang kết giao.
Tiếc thay, tầm nhìn xa trông rộng của Đức Thượng công Tả quân Lê Văn Duyệt không có nhiều tác động tích cực đến triều đình nhà Nguyễn, đến chính sách đối nội - đối ngoại của quốc gia, mà chỉ có tác dụng tích cực trong phạm vi hẹp của Gia Định thành trong một thời gian.
Bản án tàn khốc
Có thể nói, Lê Văn Duyệt là người lãnh đạo tiên phong đưa Sài Gòn mở cửa. Nhưng trong thời buổi ấy, ông và tư tưởng của ông quá cô độc. Những suy nghĩ cũng như việc làm của ông thường bị hiểu sai bởi chính triều đình, chỉ nhờ công lao và uy tín quá lớn của mình mà sinh thời, ông chưa bị triều đình bắt tội.
Thế nhưng, sau khi ông chết (1832), việc gì phải đến đã đến, một cách thậm tệ và đau xót. Bản án tàn khốc năm 1835 mà vua Minh Mạng dành cho ông (bảy án chết chém, hai án chết treo) và gia đình ông (các cháu trai gọi ông bằng bác ruột từ 13 tuổi trở lên đều bị giết sạch, trong đó có người cháu được lập tự cho ông) không đơn giản chỉ vì cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi - con nuôi ông - mà chủ yếu để "giải quyết mâu thuẫn" giữa Lê Văn Duyệt và triều đình Minh Mạng. Đó là bản án giáng vào chính tư tưởng mở cửa, vào những quan điểm rất "thoáng" mang tính cách tân của vị Tổng trấn Gia Định thành. Chỉ có nhân dân Gia Định thành là thấu hiểu điều đó. Và ký ức của nhân dân, "dã sử" của nhân dân đã ghi lại những công lao không thể xóa, không thể "trảm" của Lê Văn Duyệt đối với vùng đất mới Nam Bộ.
Ngày mới giải phóng Sài Gòn, tháng 5-1975, tôi được một người bạn đưa đến thăm Lăng Ông. Thú thật, lúc bấy giờ tôi cũng chưa biết đây là Lăng của "Ông" nào. Nhưng thấy rất đông người đến viếng. Nhìn thái độ thành kính của họ, tôi đoán đó phải là lăng mộ của một người phi thường và có quan hệ mật thiết với nhân dân, yêu thương nhân dân. Sau này, khi biết thêm về Lê Văn Duyệt, tôi hiểu sự thành kính đó xuất phát từ sự cảm thương của nhân dân đối với một con người lừng lẫy nhưng có số phận bi kịch, và đặc biệt, ẩn chứa sự hàm ơn của nhân dân đối với một người có công với dân.