Dân số và bài toán nguồn nhân lực quốc gia (*): Những con số mang theo lời cảnh báo
Nhiều quốc gia phát triển đang tiến rất gần đến kịch bản thiếu lực lượng lao động
Mức sinh giảm không gây ra khủng hoảng ngay lập tức. Nhưng khi đến một ngưỡng nhất định, xã hội sẽ phải đối mặt với một câu hỏi không thể né tránh: Còn bao nhiêu người sẽ làm việc trong tương lai?
Một trong những phân tích đáng chú ý của GS-TS Nguyễn Thiện Nhân trong tài liệu tập huấn về Luật Dân số năm 2025 là sự suy giảm lao động theo từng thế hệ. Nếu mức sinh chỉ còn 1,5 con/phụ nữ, sau một thế hệ, lực lượng lao động chỉ còn khoảng 71%; sau 2 thế hệ còn khoảng 50%; và sau 3 thế hệ chỉ còn chưa tới 36%. Đây không phải là một con số khô khan, mà là dấu hiệu cho thấy nền tảng vận hành của xã hội đang dần bị thu hẹp.
Bài học Nhật Bản
Thực tế, nhiều quốc gia phát triển đang tiến rất gần đến kịch bản thiếu lực lượng lao động. Trong kinh tế học, tăng trưởng GDP phụ thuộc 2 yếu tố cốt lõi: số lượng lao động và năng suất lao động. Khi một trong 2 yếu tố này suy giảm, tăng trưởng sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp.
GS-TS Nguyễn Thiện Nhân cho biết điển hình ở Nhật Bản, do hậu quả chiến tranh nặng nề, sau 15 năm khôi phục kinh tế, GDP/người của Nhật năm 1960 là 480 USD và năm 1962 là 685 USD, thuộc nước thu nhập trung bình. Đến năm 1977, GDP/người của Nhật đã đạt 6.340 USD, trở thành nước thu nhập cao. 18 năm sau, năm 1995, GDP/người đã đạt 44.200 USD. Từ năm 1995, Nhật Bản đã là nước thu nhập rất cao.

Dân số người cao tuổi ở Việt Nam đang tăng nhanh. Ảnh minh họa: HOÀNG TRIỀU
Tuy nhiên, thần kỳ kinh tế (1960-1995) đã ngay lập tức chấm dứt ở đỉnh cao năm 1995. Năm 1996, GDP/người đã giảm từ 44.200 USD năm 1995 xuống còn 39.150 USD - tức giảm 11,4% (danh nghĩa). Trong 10 năm, 1996-2005, GDP/người bình quân chỉ 36.160 USD, bằng 82% mức năm 1995. Lúc đó giới học giả gọi là thập niên mất mát (lost decade).
Trong suốt 30 năm sau năm 1995, từ 1996-2025, GDP/người của Nhật Bản trì trệ, nằm trong khoảng 32.400 - 49.150 USD, bình quân 1996-2025 là 37.930 USD, bằng 85,8% năm 1995. GDP/người năm 2025 là 34.412 USD (danh nghĩa), bằng 77,86% năm 1995.
Nếu loại trừ ảnh hưởng của lạm phát đến mức giá năm 2025 so với năm 1995 (chỉ số lạm phát của đồng USD sau 30 năm là 2,11), thì GDP năm 2025 chỉ bằng 36,6% GDP năm 1995, trì trệ 30 năm (1996-2025). GDP chững lại, thu ngân sách giảm, trong khi chi phí cho an sinh xã hội, quỹ hưu trí mất cân đối, đặc biệt là chăm sóc người cao tuổi, ngày càng tăng. Từ đó hình thành vòng xoáy kép: suy giảm lao động và áp lực an sinh. Về lâu dài, các quá trình trên tất yếu dẫn đến dân tộc tự tiêu vong.
Việt Nam đi sau nhưng "già trước"
Nhật Bản bước vào xã hội già khi đã tích lũy đủ nền tảng: thu nhập cao, năng suất lao động vượt trội và hệ thống an sinh xã hội được thiết kế bài bản.
Trong khi đó, Việt Nam lại đi theo một quỹ đạo khác. Quá trình già hóa diễn ra nhanh trong bối cảnh nền kinh tế vẫn đang phát triển. Thu nhập bình quân đầu người mới chỉ hơn 5.000 USD/năm, năng suất lao động còn khoảng cách đáng kể so với khu vực, trong khi chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế số và hội nhập sâu rộng.

Đồ họa: ANH THANH
Bên cạnh đó, dân số người cao tuổi lại đang tăng với tốc độ rất nhanh. Năm 2024, Việt Nam có khoảng 14,2 triệu người từ 60 tuổi trở lên. Con số này dự báo tăng lên 20,9 triệu người vào năm 2034; 27,5 triệu người vào năm 2044 và đạt tới 38,5 triệu người vào năm 2074.
Đáng chú ý, nhóm dân số từ 80 tuổi trở lên - nhóm cần chăm sóc y tế và xã hội đặc biệt - tăng mạnh nhất. Chỉ trong 10 năm đầu dự báo, số người từ 80 tuổi trở lên tăng từ khoảng 2 triệu lên 3,3 triệu. Trong toàn bộ giai đoạn 50 năm, quy mô nhóm tuổi này tăng gần 8 lần.
Theo các tiêu chí quốc tế, Việt Nam sẽ chính thức bước vào thời kỳ dân số già từ năm 2034, khi tỉ lệ người từ 65 tuổi trở lên đạt 14%. Giai đoạn dân số già kéo dài khoảng 15 năm, trước khi Việt Nam chuyển sang thời kỳ dân số "siêu già" từ năm 2050, với tỉ lệ người từ 65 tuổi trở lên có thể lên tới 25%, tức cứ 4 người sẽ có 1 người cao tuổi.
Như vậy, quá trình chuyển đổi chỉ diễn ra trong khoảng 20-25 năm, nhanh hơn rất nhiều so với các nước phát triển như Pháp (115 năm), Thụy Điển (85 năm) hay Mỹ (hơn 70 năm). Nói cách khác, Việt Nam đang bước vào xã hội già khi nền móng phát triển còn chưa kịp hoàn thiện.
Điều đáng nói, già hóa ở Việt Nam không chỉ đến từ việc tuổi thọ tăng mà còn do mức sinh giảm sâu và duy trì dưới mức sinh thay thế trong nhiều năm. Khi mức sinh đã giảm và kéo dài, khả năng đảo chiều gần như rất thấp, ngay cả khi các quốc gia tung ra nhiều chính sách khuyến sinh tốn kém. Nghịch lý "chưa kịp giàu đã già" vì thế trở thành một vấn đề mang tính cấu trúc.
"Cửa sổ dân số vàng" đang khép lại
Trong nhiều năm, Việt Nam hưởng lợi từ "cơ cấu dân số vàng" với lực lượng lao động trẻ dồi dào. Tháp dân số Việt Nam năm 2024 cho thấy nhóm dân số trong độ tuổi lao động (15-64) chiếm tỉ trọng cao nhất. Tuy nhiên, "cửa sổ cơ hội" này đang dần khép lại.
Trong giai đoạn "dân số vàng" ngắn ngủi còn lại, quy mô dân số trong độ tuổi lao động tiếp tục tăng và đạt đỉnh vào năm 2038, với khoảng 69,5 triệu người. Sau đó, lực lượng lao động sẽ bước vào xu hướng suy giảm kéo dài, xuống còn khoảng 61,6 triệu người vào năm 2074.
Điều này đồng nghĩa với việc Việt Nam chỉ còn một khoảng thời gian rất ngắn để tận dụng lợi thế về nhân lực, trước khi đối mặt áp lực thiếu hụt lao động và gánh nặng phụ thuộc gia tăng.
Trong khi đó, ở chiều ngược lại, chất lượng lao động vẫn là điểm nghẽn lớn. Theo Bộ Nội vụ, đến cuối năm 2025, tỉ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ chỉ khoảng hơn 29,5%. Phần lớn lao động vẫn thuộc khu vực phi chính thức, kỹ năng hạn chế, khó thích ứng với các ngành nghề đòi hỏi công nghệ cao.
Sự kết hợp giữa giảm số lượng lao động trẻ và chất lượng lao động chưa cao tạo ra một "khoảng trống kép" - yếu tố có thể làm suy giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế trong dài hạn. Áp lực này đã bắt đầu hiện hữu. Nhiều doanh nghiệp trong các ngành thâm dụng lao động như dệt may, da giày… ngày càng khó tuyển đủ nhân công. Một số doanh nghiệp buộc phải giữ lao động lớn tuổi hoặc thu hẹp sản xuất.
"Thiếu lao động" vẫn còn là khái niệm xa lạ với nhiều người Việt Nam, còn tại một số quốc gia, đó đã là thực tế. Chúng ta chưa rơi vào tình trạng này, song những dấu hiệu ban đầu đã xuất hiện.
Điều đáng lo, đây không phải hệ quả của một biến cố bất ngờ, mà là kết quả của một xu hướng kéo dài - mức sinh giảm. Nếu không nhìn nhận sớm, cái giá phải trả sẽ không đến ngay lập tức nhưng khi đến sẽ rất khó đảo ngược.
Theo tài liệu tập huấn về Luật Dân số năm 2025 của GS-TS Nguyễn Thiện Nhân, Việt Nam đạt được mức sinh thay thế vào năm 2006 và duy trì liên tục trong vòng 15 năm đến năm 2021.
Nhưng đến năm 2022, đã lần đầu tiên ghi nhận mức sinh giảm so với mức sinh thay thế khi số con trung bình của một phụ nữ lần đầu tiên ghi nhận là 2,01 con. Số liệu này vẫn tiếp tục giảm ở năm 2023 và 2024 với 1,96 con và 1,91 con tương ứng, năm 2025 có xu hướng tăng nhẹ là 1,93 con.
Bốn hậu quả lớn
Bốn hậu quả lớn của việc mức sinh thấp dưới mức sinh thay thế kéo dài, dẫn đến "khủng hoảng dân số" ở Nhật Bản là: Lao động giảm từ năm 1996, dự báo lao động năm 2100 chỉ bằng 27,7% năm 1995 (giảm 72,3%); kinh tế trì trệ và suy giảm từ năm 1996.
Dự báo GDP năm 2100 chỉ bằng 50% GDP năm 1995, tương đương GDP năm 1987; dân số giảm từ năm 2011 (năm 2010 là 128 triệu), dự báo năm 2100 dân số giảm 53% (còn khoảng 60 triệu), năm 2350 chỉ còn 1 triệu người, năm 3000 chỉ còn 62 người; nợ công tăng cao (năm 2021 là 256% GDP), nguy cơ khủng hoảng nợ công.
(Còn tiếp)
(*) Xem Báo Người Lao Động từ số ra ngày 20-4