Đào tạo bác sĩ nội trú: Cần tiếng nói chung
Vấn đề cốt lõi của tranh luận kéo dài về chương trình bác sĩ nội trú, chuyên khoa I, II là chưa có "trọng tài", cơ quan điều phối tối cao để thống nhất
Những ngày qua, trong khi Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT) cho rằng chương trình bác sĩ nội trú (BSNT), chuyên khoa I (CKI), chuyên khoa II (CKII) là "đào tạo - hành nghề", không cấp văn bằng như thạc sĩ, tiến sĩ thì ngược lại, giới y khoa bày tỏ quan điểm không đồng tình.
Đã duy trì nhiều thập kỷ
Trước đó, tại nghị trường Quốc hội (QH), đại biểu (ĐB) QH Nguyễn Tri Thức, Thứ trưởng Bộ Y tế, nói rõ việc xem đào tạo BSCKI, CKII, BSNT như chứng chỉ hành nghề là chưa đúng. Họ là những tinh hoa, trí thức rất lớn của ngành y. Hiện nay, sau khi tốt nghiệp, BS sẽ gần như chia thành 2 nhóm. Nhóm đầu tiên theo hướng giảng dạy ở các trường đại học (ĐH), thiên về học thạc sĩ, tiến sĩ. Nhóm thứ hai đi làm việc tại các bệnh viện, học thực hành và sẽ học CKI, CKII và NT. "Lực lượng BSNT là tinh hoa của tinh hoa trong ngành y. Vì vậy, xem CKI, CKII và NT như đào tạo chứng chỉ hành nghề là hoàn toàn không chính xác. Đây là sự nhìn nhận chưa đúng về lực lượng nòng cốt đang hành nghề trong ngành y" - lãnh đạo Bộ Y tế nhấn mạnh.
ĐBQH Trần Khánh Thu (đoàn Hưng Yên) cũng cho rằng những nhận định của Bộ GD-ĐT không công bằng với hệ thống đào tạo sau ĐH lĩnh vực y tế. Cấu trúc chương trình đào tạo sau ĐH các chuyên ngành lĩnh vực sức khỏe hoàn toàn phù hợp theo các chương trình đào tạo học thuật và hoàn toàn tuân thủ các quy định về đào tạo hiện nay. "Ngành y tế tha thiết kiến nghị được bổ sung văn bằng đào tạo sau ĐH lĩnh vực sức khỏe vào hệ thống văn bằng quốc dân để hơn 40.000 cán bộ y tế có đủ cơ sở pháp lý công nhận cho văn bằng đã được đào tạo và hướng tới các quy định chuẩn quốc tế" - bà Thu bày tỏ.

Buổi tuyển chọn chuyên ngành bác sĩ nội trú tại Trường ĐH Y Hà Nội năm 2025. Ảnh: NGỌC DUNG
ĐBQH Trần Nhị Hà (đoàn Hà Nội) khẳng định đào tạo nhân lực y tế, đặc biệt là trình độ chuyên khoa, không chỉ là đào tạo hàn lâm về học thuật mà phải gắn liền với thực hành lâm sàng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Đây là mô hình bền vững, hiệu quả, cần được pháp luật ghi nhận đầy đủ và tương xứng. "Nếu chúng ta không xác lập được rõ ràng vị trí pháp lý của đào tạo chuyên khoa trong luật, đội ngũ BS Việt Nam sẽ gặp khó khăn trong quá trình hội nhập, năng lực cạnh tranh của nguồn lực, nhân lực y tế quốc gia cũng sẽ bị ảnh hưởng…" - ĐB Hà nêu quan điểm.
Tại Việt Nam, chuyên khoa sau ĐH trong lĩnh vực sức khỏe được đào tạo bên cạnh hình thức thạc sĩ, tiến sĩ còn có 3 hình thức: CKI, CKII và BSNT. Mô hình này được kế thừa từ hệ thống Pháp và duy trì hơn 50 năm qua, do Bộ Y tế quản lý và các trường ĐH Y, Dược tổ chức đào tạo.
Cần tiếng nói chung
GS-TS-BS - Thầy thuốc Nhân dân Lê Ngọc Thành, Chủ tịch Hội đồng Giáo sư ngành y học, Hiệu trưởng Trường ĐH Y Dược - ĐHQG Hà Nội (người từng được đào tạo BS trong nước và quốc tế), cho rằng việc xếp tương đương giữa các chương trình đào tạo BSNT, CKI và thạc sĩ cần được nhìn nhận đúng bản chất chuyên môn và thông lệ quốc tế. Theo ông, chương trình BSNT đã bao hàm đầy đủ nội dung của chương trình thạc sĩ và có thời gian thực hành sâu hơn, vì vậy hiện nay học viên BSNT được cấp 2 bằng: BSNT do Bộ Y tế cấp và thạc sĩ do Bộ GD-ĐT cấp. "Thời tôi học còn được cấp thêm bằng CKI của Bộ Y tế - như vậy mới đúng bản chất đào tạo" - ông nói.
Chính phủ nên chủ trì, triệu tập các bộ liên quan để thống nhất một khung đào tạo y khoa quốc gia.
Với chương trình CKI, GS Thành cho biết đây là chương trình do Bộ Y tế quản lý, nội dung gần giống thạc sĩ nhưng khác duy nhất ở việc không làm luận văn tốt nghiệp. Đối với CKII, nội dung đào tạo tương đương chương trình tiến sĩ ở nhiều khía cạnh, trừ một số môn phụ trợ và chuyên đề học thuật, vì chương trình tập trung chủ yếu vào tay nghề chuyên sâu. Vấn đề cốt lõi của tranh luận này là chưa có "trọng tài", tức cơ quan điều phối tối cao để thống nhất giữa Bộ Y tế và Bộ GD-ĐT. Hai bộ đều cho rằng mình đúng, song cách hiểu chưa đầy đủ và chưa theo thông lệ quốc tế.
Theo GS Thành, giải pháp không phức tạp và không cần nghiên cứu lại từ đầu mà nên tham khảo và áp dụng các mô hình đào tạo y khoa quốc tế, như ở Pháp và Nhật Bản, vốn phù hợp với Việt Nam. Việc đào tạo BS phải luôn tuân theo thông lệ quốc tế, không phân biệt kiểu đào tạo và Chính phủ sẽ giữ vai trò quyết định trong việc thống nhất khung chương trình. Mặc dù các chương trình như BSNT, CKI, CKII do Bộ Y tế quản lý nhưng Chính phủ cần coi đây là các chương trình quốc dân, được quản lý đặc thù và có chế độ đãi ngộ phù hợp. Ông cũng cho rằng nên bỏ hoàn toàn khái niệm thạc sĩ ứng dụng và thạc sĩ trong ngành y, chỉ còn một chuẩn thạc sĩ chung, thống nhất. "Ngành y là ngành đào tạo đặc thù, đối tượng là con người, thời gian học kéo dài. Ở Pháp, mất 9 năm mới hành nghề đa khoa; ở Nhật là 8 năm; BS chuyên khoa như phẫu thuật thần kinh, tim mạch can thiệp phải đào tạo tới 14-16 năm. Vì vậy, cần có chính sách đãi ngộ tương xứng với thời gian học tập và đóng góp" - vị chuyên gia đề xuất.
Điều chỉnh để phù hợp
GS-TS Nguyễn Hữu Tú, Hiệu trưởng Trường ĐH Y Hà Nội, cũng đề xuất Chính phủ cùng các bộ, ngành và địa phương ưu tiên bố trí vốn đầu tư từ ngân sách Trung ương và địa phương giai đoạn 2026 - 2030 để triển khai các đề án thành phần thuộc Quyết định 714 của Thủ tướng. Nguồn lực này nhằm xây dựng cơ sở vật chất, hiện đại hóa các viện, trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ y khoa, từ đó giúp Trường ĐH Y Hà Nội nâng cao chất lượng, mở rộng quy mô đào tạo và khẳng định vai trò dẫn dắt. Trường cũng đề xuất ban hành quy định cấp kinh phí và có cơ chế hỗ trợ cho BSNT trong thời gian học tập; đồng thời, điều chỉnh chính sách cấp bù học phí cho một số chuyên ngành khó thu hút như lao, tâm thần, truyền nhiễm, giải phẫu pháp y...
Vừa điều trị vừa nghiên cứu
Theo BSCKII Nguyễn Minh Tiến, Phó Giám đốc Bệnh viện Nhi Đồng Thành phố (TP HCM), BSNT có khả năng chẩn đoán, điều trị, thực hành kỹ thuật và nghiên cứu học thuật tương đương thạc sĩ. Tuy nhiên, sự khác biệt quan trọng là thạc sĩ tập trung vào nghiên cứu, trong khi BSNT vừa làm lâm sàng vừa nghiên cứu.
Vì vậy, BSNT vượt trội hơn về tay nghề thực hành. Thạc sĩ, BSNT sẽ cần làm đề tài nghiên cứu, còn BSCKI không làm đề tài. "Nếu không có đề tài nghiên cứu, CKI không thể tương đương thạc sĩ được. Đây là điểm khác biệt quan trọng giữa NT và CKI" - BS Tiến chỉ rõ.

Thi tốt nghiệp y khoa sau đại học năm 2025
Chỉ khi tốt nghiệp NT, BSNT mới được xem là đủ khả năng làm việc độc lập. Sinh viên y học 6-7 năm ra trường, sau đó vào NT 2-4 năm tùy chuyên ngành. Trong thời gian NT, họ vẫn làm dưới sự hướng dẫn nhưng mức độ trách nhiệm cao hơn CKI. "NT được giao quản lý phòng bệnh, xử lý ca bệnh và chỉ hỏi thầy khi gặp vấn đề khó. Sau khi tốt nghiệp, BSNT có thể điều trị bệnh nhân độc lập và chịu trách nhiệm chuyên môn" - BS Tiến mô tả.
So sánh chương trình NT và thạc sĩ, xét về lý thuyết, chương trình học không khác biệt quá lớn. Thạc sĩ, BSNT đều phải làm một đề tài nghiên cứu. Người có bằng thạc sĩ nhưng thiếu kinh nghiệm lâm sàng sẽ không xử lý được các ca bệnh nặng. Đối với đào tạo tiến sĩ y khoa tại Việt Nam, đa số là các BS có 10 năm kinh nghiệm trở lên, sau đó mới học tiến sĩ. Với những trường hợp học tiến sĩ ngay sau khi ra trường, họ chỉ có kỹ năng nghiên cứu, không có kinh nghiệm thực hành. "Giỏi nghiên cứu không đồng nghĩa giỏi lâm sàng. Lâm sàng cần kinh nghiệm thực chiến, còn nghiên cứu cần thời gian đọc, phân tích, viết bài. NT kết hợp được cả hai" - BS Tiến lý giải.
Mô hình NT ở Việt Nam chịu ảnh hưởng từ Pháp nhưng được điều chỉnh theo điều kiện trong nước. Trong khi đó, nước ngoài tuyển NT rất ít và yêu cầu cao, áp dụng chế độ "lọc dần". Việt Nam đào tạo số lượng lớn, thầy, cô hướng dẫn không đủ để bảo đảm chất lượng theo chuẩn quốc tế. Vì vậy, bằng NT của mình chưa chắc được họ công nhận. Để hội nhập quốc tế, Việt Nam cần kéo dài thời gian đào tạo BS, tăng thời gian thực hành; chuẩn hóa chương trình NT, giống các nước tiên tiến; phối hợp Bộ Y tế và Bộ GD-ĐT trong quản lý chất lượng đào tạo; xác định rõ vai trò nghiên cứu của từng bậc học NT, chuyên khoa, thạc sĩ, tiến sĩ.
BSNT vừa làm lâm sàng vừa nghiên cứu. Họ xứng đáng được công nhận tương đương thạc sĩ, thậm chí vượt hơn những người chỉ học thạc sĩ hoặc CKI. Việc xếp tương đương BSNT và thạc sĩ là hợp lý và phản ánh đúng năng lực thực tế. BSNT ra trường là BS thực thụ. Họ có thể đứng độc lập điều trị bệnh nhân, có thể xử lý 90% tình huống, 10% còn lại là hội chẩn cùng các thầy.