Đừng để người dân “tự quản” an toàn thực phẩm!
(NLĐO)- Đã đến lúc cần một cách tiếp cận khác: quản lý vi mô, liên tục và có trách nhiệm cụ thể.
Thức ăn đường phố không chỉ là bữa ăn nhanh của người lao động mà còn là “hơi thở” của đô thị. Nhưng khi sự tiện lợi, rẻ và dễ tiếp cận lấn át mọi chuẩn mực, thì câu hỏi không còn là “ăn có ngon không”, mà là ai đang chịu trách nhiệm cho sự an toàn của hàng triệu suất ăn mỗi ngày?
Khi “ngon- rẻ- tiện” lấn át an toàn thực phẩm
Báo Người Lao Động ngày 15-4 có bài viết “Ăn uống vỉa hè: Đừng để ngon, tiện lợi đổi lấy bệnh tật!”,trong đó mô tả khá đầy đủ thực tế thức ăn đường phố hiện nay. Không ít hàng quán vỉa hè bày thức ăn lộ thiên, sát mặt đường, cạnh cống rãnh hoặc điểm tập kết rác; dụng cụ rửa sơ sài trong nước bẩn dùng đi dùng lại; người bán vừa cầm tiền vừa bốc thức ăn, không đảm bảo nguyên tắc vệ sinh cơ bản.
Đáng lo hơn, thực phẩm sống- chín để lẫn lộn, không có quy trình chế biến một chiều, làm tăng nguy cơ nhiễm chéo vi khuẩn, nguyên nhân trực tiếp gây ngộ độc.
Nghịch lý là dù “thấy dơ”, nhiều người vẫn ăn. Lý do rất đơn giản rẻ, nhanh, phù hợp túi tiền. Điều này khiến thị trường tự điều chỉnh theo hướng hạ chuẩn vệ sinh để cạnh tranh giá, thay vì nâng chuẩn để cạnh tranh chất lượng.

Hình ảnh người bán không dùng găng tay khá phổ biến (ảnh: HUYỀN TRÂN)
Thiếu mô hình quản lý linh hoạt
Thức ăn đường phố gắn với sinh kế của hàng chục nghìn người. TP HCM có khoảng 14.300 cơ sở dạng này, phần lớn không thuộc diện cấp phép bắt buộc. Cấm là không khả thi, buông lỏng cũng không thể chấp nhận.
Vấn đề cốt lõi là quản lý theo cách phù hợp với thực tế đô thị. Nếu vẫn áp dụng tư duy quản lý “trên giấy”, kiểm tra rầm rộ một thời gian rồi “nguội”, trách nhiệm phân tán thì dù có quy định vẫn không “chạm” được đến từng xe đẩy, từng gánh hàng rong. Luật vẫn nằm trên giấy. Điểm nghẽn không nằm ở thiếu luật, mà ở thiếu một mô hình quản lý linh hoạt.
Dĩ nhiên, không thể yêu cầu người bán nhỏ lẻ đủ điều kiện như nhà hàng nhưng phải có chuẩn tối thiểu.

Chai tương ớt cáu bẩn vẫn được để trên bàn phục vụ khách (ảnh: HUYỀN TRÂN)
“Chạm” tới từng gánh hàng
Đã đến lúc cần một cách tiếp cận khác: quản lý vi mô, liên tục và có trách nhiệm cụ thể. Không quản từ trên xuống một cách chung chung. Phường- xã phải là “đầu mối chịu trách nhiệm cuối cùng”. Lập danh sách từng điểm bán (cố định và di động), gắn cán bộ phụ trách theo địa bàn, theo dõi lịch sử vi phạm, phản ánh của người dân. Khi có địa chỉ cụ thể và người chịu trách nhiệm rõ ràng, quản lý mới không bị buông lỏng.
Với thức ăn đường phố, không cần tiêu chuẩn phức tạp nhưng phải có ngưỡng tối thiểu không thể vi phạm, đạt điều kiện để được bán. Ví dụ có che chắn (tủ kính hoặc màng chắn bụi), không để lẫn thực phẩm sống- chín, có nước sạch để sơ chế, người bán phải dùng găng tay hoặc dụng cụ gắp…
Một giải pháp hiệu quả là phân loại và gắn nhãn. Điểm bán đạt chuẩn, có bảng nhận diện (QR hoặc biển treo), người dân có thể quét để biết thông tin cơ bản. Khi đó, thị trường sẽ tự sàng lọc, quán sạch đông khách, quán bẩn tự bị đào thải.
Ngoài ra, không thể chỉ trông vào lực lượng thanh tra, cần tận dụng chính người dân thông qua áp dụng ứng dụng phản ánh nhanh (chụp hình- gửi vị trí), công khai kết quả xử lý, kết nối với mạng xã hội. Một quán ăn có thể nổi tiếng sau một clip và cũng có thể mất khách chỉ sau một phản ánh. Áp lực xã hội là công cụ quản lý mạnh nhất nếu biết cách sử dụng.
Gần dân, thực chất, thông minh và kinh tế hơn
Một thực tế không thể phủ nhận, người dân đang phải tự làm “thanh tra an toàn thực phẩm” cho chính mình, bằng cách… nhìn và đoán. Điều đó không thể kéo dài. Quản lý thức ăn đường phố phải đi vào bản chất, gần dân hơn (phường- xã chịu trách nhiệm), thực chất hơn (chuẩn tối thiểu, kiểm tra thường xuyên), thông minh hơn (công nghệ, cộng đồng) và kinh tế hơn (biến sạch thành lợi nhuận).
Nói ngắn gọn, muốn người bán thay đổi, phải để họ thấy lợi ích rõ ràng. Ưu tiên vị trí kinh doanh cho điểm bán đạt chuẩn, hỗ trợ vay nhỏ để cải thiện dụng cụ, tủ kính, tập huấn ngắn, dễ hiểu, miễn phí.
Khi đó, thức ăn đường phố không còn là “vùng xám” đầy rủi ro, mà trở thành một phần văn hóa: sạch, an toàn và đáng tự hào.
Khi người bán thấy việc sạch sẽ giúp bán đắt hơn, đông khách hơn, họ sẽ tự thay đổi nhanh hơn bất kỳ chiến dịch xử phạt nào.