Cấm đoán nhiều hơn thúc đẩy!

Sự ra đời của Luật Chuyển giao công nghệ (CGCN) trên cơ sở Nghị định 11 (của Chính phủ về chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam ban hành năm 2005 - PV) mà mục đích cao nhất của nó là thúc đẩy quá trình CGCN.

 Nhưng khi tìm hiểu văn bản dự luật này, chúng tôi thấy “thượng vàng hạ cám gì cũng kiểm soát, nhỏ nhất là từ chợ công nghệ...”. Bà Trương Thùy Trang, Phó Giám đốc Sở Khoa học - Công nghệ TPHCM, đã mở đầu phần góp ý cho Luật CGCN tại buổi làm việc với Đoàn Đại biểu Quốc hội TPHCM ngày 21-2 như vậy.

Với mục tiêu trình bày những vướng mắc trong lĩnh vực CGCN và góp ý xây dựng Luật CGCN đáp ứng được nhu cầu cấp bách của lĩnh vực đồng thời không vênh với các điều ước quốc tế, gần 20 đại biểu tham gia góp ý đã thẳng thắn nêu lên những vấn đề “cần chỉnh chữa” của dự luật.

Luật thiếu hệ thống và định nghĩa sơ sài khái niệm

Ý kiến này được nhiều đại biểu đưa ra. Theo Ông Nguyễn Văn Xiển, Hiệp hội Doanh nghiệp TPHCM, điều 2, điều 3 chương I của dự luật định nghĩa về “chuyển giao công nghệ”, “công nghệ mới” chưa đầy đủ. Nếu đưa những định nghĩa này ra so sánh với những định nghĩa trong Bộ Luật Dân sự nước ta năm 1995 thì nó còn quá sơ sài. Trên cơ sở thiếu những khái niệm đúng, đại biểu này đặt vấn đề luật sẽ xử lý như thế nào nếu xảy ra tranh chấp? Đồng tình với ý kiến này, đại diện của Viện Kinh tế TPHCM còn nhấn mạnh thêm các vấn đề như: khoản 2, điều 21 chưa có quy định bảo vệ bên thiệt hại; hoặc chưa định nghĩa rõ “người môi giới”; khái niệm “bên thứ 3”, khái niệm “tác giả”...

Luật cổ vũ cơ chế “xin cho” và “giấy phép con”

Phân tích của nhiều đại biểu cho rằng dự thảo luật này đã can thiệp quá nhiều vào thị trường khoa học - công nghệ. Chẳng hạn, điều 36 bắt buộc đăng ký thành lập tổ chức CGCN, sau đó lại tiếp tục quy định thêm việc đăng ký hoạt động. Điều 42 của dự luật cũng mơ hồ khi quy định không rõ ràng việc đăng ký hoạt động CGCN phải thực hiện lần đầu tiên hay mỗi lần hoạt động phải đăng ký lại. Đại diện Ban Quản lý Khu Công nghệ cao thì cho rằng điều 19 của dự luật này đã cổ vũ cho cơ chế xin cho khi không có quy định về thời hạn trả lời của cơ quan có thẩm quyền”.

Góp ý chỉnh sửa dự luật, đại diện của Ủy ban Về Người Việt Nam ở nước ngoài cho rằng điều 25 nên giao việc CGCN cho các đơn vị, chứ không nên trong mọi việc Bộ Khoa học - Công nghệ cũng “dự phần”. Để khắc phục tình trạng “giấy phép con”, đại diện của Sở Khoa học - Công nghệ TPHCM nhấn mạnh đến việc luật phải quy định cho được những loại công nghệ được tự do giao dịch và những loại công nghệ phải kiểm soát. Tránh tình trạng “cái gì cũng phải xin phép như quy định trong dự luật”.

Tổng kết buổi làm việc, Đoàn Đại biểu Quốc hội TPHCM đã ghi nhận hết những ý kiến và hứa sẽ trình lên Quốc hội.

Đề nghị quy định việc CGCN cho những ngành cụ thể

Dự luật còn thiếu các quy định về CGCN trong nhiều ngành như: giáo dục - đào tạo, nông nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế mở. Theo những đại biểu này, việc CGCN trong lĩnh vực đào tạo như phương pháp giảng dạy, tài liệu giảng dạy... nếu không quy định thì có phải đăng ký hay không. Tiến sĩ Lê Văn Phi, Trường ĐH Kinh tế TPHCM, cho rằng còn thiếu những quy định khi đưa các kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn. Còn đối với lĩnh vực nông nghiệp, tiến sĩ Nguyễn Đăng Nghĩa, Viện Khoa học Nông nghiệp Miền Nam, phân tích rất kỹ khi đối tượng CGCN là nông dân thì phần trăm kinh phí chuyển giao nếu cứ theo dự luật thì không thể thực hiện được.