Tôi xin làm người bắc cầu...

Sinh ra tại Quảng Nam, lớn lên tại Phú Yên sau đó đi du học và định cư tại Canada, GS-TS Lê Ngọc Thọ hiện là một trong những chuyên gia được thế giới công nhận nhờ những sáng chế trong lĩnh vực công nghệ thông tin – viễn thông. Ông đang làm một công việc nhiều ý nghĩa: Chọn những học sinh – sinh viên xuất sắc của Việt Nam để tư vấn và xin học bổng du học ở nước ngoài

Lúc nào cũng nên học

. Phóng viên: Ông có những sáng chế tiêu biểu nào được thế giới công nhận?

- GS-TS Lê Ngọc Thọ: Tôi làm về viễn thông qua vệ tinh, viễn thông không dây, viễn thông imgđa phương tiện. Tôi đã nghiên cứu đưa ra những đề nghị, những phương cách để làm cho cách truyền tin được tốt hơn. Tôi đã viết hơn 400 bài nghiên cứu đăng trên các báo và các tham luận hội nghị, xuất bản 2 cuốn sách và đã có 7 bằng sáng chế được công nhận.

Tôi được bầu làm viện sĩ Viện Hàn lâm Kỹ thuật Canada từ năm 2005 cho những đóng góp về viễn thông băng rộng; là viện sĩ Viện Kỹ thuật Canada từ năm 2000; viện sĩ Viện Kỹ sư Điện và Điện tử từ năm 1997 cho những đóng góp về kỹ thuật điều biến, mã sửa sai và đa truy cập ứng dụng trong viễn thông không dây...

. Trong hàng loạt những sáng chế được công nhận đó, GS tâm đắc nhất là sáng chế nào?

- Đó là cách giải quyết trường hợp rớt mạng Internet và điện thoại. Cứ hình dung việc truy cập vào Internet cũng giống như chúng ta đang lưu thông trên một con đường đầy ắp xe cộ mà ai cũng tranh đi trước, dẫn đến tình trạng tắc nghẽn giao thông. Tôi đã tìm được phương cách tránh được sự tắc nghẽn đó, đồng thời làm cho lưu lượng của kênh thông tin đạt được tốt nhất. Giải pháp của tôi đã đóng góp giải quyết tình trạng “nghẽn giao thông” trong viễn thông băng rộng.

. Bí quyết nào giúp ông thành công trong việc học tập cũng như nghiên cứu khoa học như vậy?

- Theo tôi, lúc nào mình cũng phải đọc, phải học hỏi nhiều. Bản thân tôi chọn nghề dạy học vì tôi thích được học. Lúc tôi còn nhỏ, tôi rất thích lĩnh vực khoa học kỹ thuật. Lớn lên, nghề dạy học và nghiên cứu khoa học kỹ thuật cho phép tôi vừa nghiên cứu được những điều mới lạ, vừa học hỏi được nhiều từ đồng nghiệp, từ sinh viên của mình. Cái gì mình không biết thì mình nên học.

Ngoài ra, cần cù trong công việc là tốt, nhưng nếu “chúi mũi” vào nó quá thì lại... không tốt. Cần phải có thời gian vui chơi, giải trí để cảm nhận thiên nhiên, thế giới luôn thay đổi sinh động quanh mình...

Sinh viên muốn có học bổng?

. Được biết ông về Việt Nam lần này là để tìm những sinh viên giỏi để cấp học bổng đi học sau đại học ở nước ngoài...

- Tôi không cấp học bổng mà chỉ là người hướng dẫn giúp cho những em có khả năng có được sự chuẩn bị sớm hơn. Tôi là người bắc cầu, giới thiệu cho các em những ngành học có học bổng, hướng các em tập trung nghiên cứu những nội dung, ngành học đại học có liên quan đến ngành đào tạo đó và sau cùng là giúp chuẩn bị các điều kiện cần thiết nhất để có thể xin được học bổng. Tôi là giáo sư đang giảng dạy ở nhiều trường đại học ở nhiều quốc gia khác nhau, tôi thường được các trường hỏi ý kiến trong việc tuyển chọn người nước ngoài để cấp học bổng sang các trường này. Chỉ riêng trường nơi tôi công tác hằng năm có đến 600 - 700 hồ sơ được gởi đến từ khắp nơi trên thế giới để xin học bổng du học sau đại học. Nếu có sự giới thiệu thì các sinh viên Việt Nam có cơ hội hơn.

. Một sinh viên muốn được GS giới thiệu cấp học bổng du học cần phải có những điều kiện gì?

- Hiện tôi đang tìm học bổng du học sau đại học, tức những người đã tốt nghiệp xong một đại học. Những em học giỏi xếp từ thứ nhất đến thứ năm của lớp thì sẽ có cơ hội cao, thích khoa học kỹ thuật, nhất là chuyên ngành công nghệ thông tin, điện và điện tử thì có thể liên lạc với tôi để được tư vấn, giúp đỡ việc chuẩn bị trước khi tìm được những học bổng du học.

Cần đổi mới tư duy giáo dục

. Đã từng về VN nói chuyện với các trường ĐH, GS có nhận xét gì về nền giáo dục của VN?

- Tôi thấy giáo dục của VN hiện vẫn còn nặng tính từ chương. Ở mình có câu tục ngữ thế này: “Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe” và nó được “áp dụng” khá nhiều trong giáo dục. Nghĩa là học sinh phải học rồi, phải “biết” rồi mới được phát biểu, mới được có ý kiến; còn không thì phải... nín thinh. Cách này dễ làm học sinh chỉ biết học thuộc lòng rồi “trả bài”. Hãy khơi gợi cho học sinh cho ý kiến, có thể tỉ lệ những phát biểu sai của học sinh trước một vấn đề mới sẽ cao hơn so với những phát biểu đúng, tuy nhiên có thể có những ý lạ. Quan trọng hơn, đó là những nhận định do “động não” trong khả năng, hiểu biết của các em. Nếu học sinh nói sai thì mình giúp họ nói đúng, còn em nào tìm đúng được rồi mình sẽ giúp họ tìm thêm những kiến thức, thực hiện câu tục ngữ: “Học 1 biết 10” khơi gợi sáng tạo.

Một điều phải quan tâm là đừng giấu dốt. Tôi là một giáo sư, nhưng tôi sẵn lòng nói rằng mình không biết một vấn đề nào đó ngay cả trong lĩnh vực chuyên môn của mình. Với tôi đó là điều rất đơn giản và rất bình thường. Tôi không biết vì thực tế là tôi không biết. Đâu phải cái gì giáo sư cũng biết được hết, nên không biết thì nói không biết. Bây giờ chúng ta đang ở trong thời kỳ bùng nổ thông tin, sinh viên học sinh lên mạng hằng ngày và nếu họ quan tâm đến một lĩnh vực nào đó có thể họ tìm hiểu kỹ hơn thầy giáo của họ chứ. Và tôi nghĩ rằng thầy giáo cũng phải biết tận dụng cơ hội để học tập từ hiểu biết của học trò mình. Thành ra, khi đặt ra một vấn đề để thảo luận, thì học sinh học được ở thầy những lời hướng dẫn, những kiến thức mà thầy có được, và ngược lại thầy cũng học được những ý mới lạ của học trò...

. Xin cám ơn GS về buổi trò chuyện này.

. Sinh tại Quế Sơn, Quảng Nam năm 1954. Hai năm sau, ông theo gia đình vào Tuy Hòa (Phú Yên) sinh sống.

. Năm 1972, thi đậu vào Trung tâm Kỹ thuật Phú Thọ (bây giờ là Đại học Bách khoa TPHCM), ngành điện tử.

. Tháng 1-1973: Nhận học bổng đi du học Canada.

. 1976: Tốt nghiệp kỹ sư điện, chuyên ngành điện tử ở ĐH McGill. Từ đó đến năm 1982: kỹ sư thiết kế và nghiên cứu cho công ty về không gian và viễn thông vệ tinh Spar Aerospace. Đi làm toàn phần, học bán phần và hoàn tất M.Eng. (thạc sĩ) ở ĐH McGill về điện tử vi tính năm 1978, và Ph.D (tiến sĩ) về viễn thông vệ tinh ở ĐH Ottawa đầu năm 1983.

. 1982-1985: làm manager nhóm nghiên cứu và thiết kế hệ thống viễn thông SR500 cho Công ty SRTelecom. Tham gia giảng dạy một số môn ở các ĐH McGill, Concordia và Québec và hướng dẫn sinh viên M.Eng. và Ph.D ở ĐH Concordia.

. 1985-2000: làm GS toàn phần ở ĐH Concordia.

. 1995-1998: là giám đốc Trung tâm Nghiên cứu xử lý tín hiệu và viễn thông (Director, Signal Processing and Communications Research Centre).

. 1995-2003: lãnh đạo dự án nghiên cứu về viễn thông vệ tinh băng thông rộng (Leader of the Major Project Broadband Satellite Communications) quy tụ giáo sư nghiên cứu ở 6 đại học và trung tâm nghiên cứu viễn thông Canada.

. Từ năm 2000: làm GS ở ĐH McGill.

. Từ năm 2004: Giám đốc khoa học sáng lập của Trung tâm Nghiên cứu thông tin và viễn thông cao cấp (Founding Scientific Director of the Center for Advanced Systems and Technologies in Communications, SYTACom).

. 2002-2005: thành viên nhóm tư vấn về viễn thông vệ tinh cho Cơ quan không gian Canada (Member, Canadian Space Agency, CSA, Satellite Communications Advisory Group, SatCom-AG).