Xã hội hóa để phát triển khoa học và công nghệ

Mặc dù được coi là quốc sách với mức đầu tư chiếm 2% tổng chi ngân sách hằng năm nhưng khoa học công nghệ vẫn còn ít sản phẩm có giá trị. Phóng viên Báo Người Lao Động đã có cuộc trao đổi với TS Nguyễn Quân, Thứ trưởng Bộ Khoa học - Công nghệ, về vấn đề trên

img

Sân chơi robocon kích thích giới trẻ nghiên cứu sáng tạo. Ảnh: T.LÊ

Phóng viên: Từ năm 2000 đến nay, Việt Nam đã dành 2% tổng chi ngân sách hằng năm cho khoa học công nghệ (KH-CN). Tuy nhiên, hiệu quả của việc đầu tư chưa như kỳ vọng mà xã hội mong đợi?

img

- TS Nguyễn Quân: Có thể dư luận xã hội chưa nhận thấy sự chuyển biến của hoạt động KH-CN, vì bản thân KH-CN mang tính đặc thù với kết quả thường là sản phẩm vô hình, tiềm ẩn trong các sản phẩm cụ thể của đời sống và có độ trễ nhất định. Nhưng nếu để ý một chút thì có thể thấy mấy năm qua, KH-CN đã làm được nhiều việc đáng kể. Trước hết là nền tảng pháp lý cho phát triển KH-CN của Việt Nam đã được xây dựng và cơ bản hoàn thiện bằng việc Quốc hội đã ban hành hàng loạt bộ luật chuyên ngành. Số lượng các bài báo quốc tế và các sáng chế được đăng ký trong và ngoài nước bắt đầu tăng nhanh. Nhiều ngành chủ lực của nền kinh tế đã có tăng trưởng mạnh nhờ ứng dụng công nghệ mới. Việt Nam đã được thế giới đánh giá cao trong việc chống dịch cúm gia cầm, tế bào gốc, xuất khẩu gạo, cà phê, cá da trơn... Năm 2008 cũng đã chứng kiến sự kiện Việt Nam có vệ tinh viễn thông đầu tiên, khởi động chương trình xây dựng nhà máy điện hạt nhân.

Tất nhiên, kỳ vọng của xã hội còn cao hơn nhiều. Xã hội đòi hỏi KH-CN phải nhanh chóng đạt tới trình độ của khu vực và thế giới; phải sớm có những tập thể khoa học mạnh, nhiều công trình đạt trình độ quốc tế, nhiều bài báo được đăng tải trên các tạp chí quốc tế, nhiều phát minh sáng chế được đăng ký và công nhận ở nước ngoài... Đó cũng là mục tiêu hướng tới của KH-CN trong những năm tới.

- Cũng có ý kiến cho rằng dù được đầu tư nhiều nhưng KH-CN chưa tạo ra được những sản phẩm thiết thực cho đời sống người dân, bởi thế mới có các “nhà khoa học chân đất”?

- Ý kiến đó chưa chính xác. Đúng là KH-CN được đầu tư khá cao nhưng do xã hội hóa hoạt động KH-CN còn ở mức rất thấp. Đầu tư cho KH-CN chủ yếu là ngân sách Nhà nước, tính bình quân trên đầu người chỉ khoảng 5 USD/năm (của Trung Quốc trên 20 USD/năm và Hàn Quốc xấp xỉ 1.000 USD/năm). Trong đó, phần lớn là chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên cho các tổ chức KH-CN, còn chi trực tiếp cho các đề tài nghiên cứu các cấp chỉ chưa đến 10%. Điều này lý giải vì sao KH-CN còn ít sản phẩm có giá trị, ít có công bố quốc tế, ít có phát minh, sáng chế ở tầm quốc tế. Đồng thời, công tác tuyên truyền cho kết quả nghiên cứu của các viện, trường lại chưa được quan tâm nên ít người biết, trong khi sáng kiến cải tiến kỹ thuật của các “nhà khoa học chân đất” lại dễ gây ấn tượng hơn với xã hội.

- Như vậy, muốn phát triển mạnh KH-CN cũng đồng nghĩa với việc đẩy mạnh xã hội hóa KH-CN?

- Hiện nay, việc xã hội hóa KH-CN được thể hiện ở việc Nhà nước cho phép các tổ chức và cá nhân được thành lập tổ chức KH-CN; giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức KH-CN công lập theo Nghị định 115; khuyến khích các bộ ngành, địa phương, các tổ chức và cá nhân thành lập quỹ phát triển KH-CN; Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp mới (có hiệu lực từ 1-1-2009) cho phép doanh nghiệp được trích tối đa 10% lợi nhuận trước thuế để lập quỹ phát triển KH-CN của doanh nghiệp, nếu các doanh nghiệp thực hiện nghiêm quy định này thì hằng năm có thêm khoảng 13.000 tỉ đồng đầu tư cho KH-CN (gần gấp đôi mức đầu tư từ ngân sách). Do đó, năm 2009, bộ sẽ tiếp tục đẩy mạnh hoạt động của các quỹ phát triển KH-CN; thúc đẩy các tổ chức, cá nhân lập quỹ, hỗ trợ các tổ chức KH-CN chuyển đổi sang cơ chế tự chủ và hình thành hệ thống doanh nghiệp KH-CN. Bộ cũng sẽ phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan hướng dẫn các doanh nghiệp trích lợi nhuận trước thuế lập quỹ phát triển KH-CN của doanh nghiệp hoặc đóng góp cho quỹ phát triển KH-CN của địa phương. Đồng thời tạo điều kiện để các thành phần kinh tế thành lập các tổ chức KH-CN hoạt động theo cơ chế tự chủ.

- Giải thưởng KH-CN cũng là một hình thức xã hội hóa KH-CN. Tuy nhiên, giải thưởng hiện nay nhiều nhưng còn mang tính phong trào, làm sao tạo động lực cho nhà khoa học nghiên cứu?

- Tôi cho rằng cần rà soát lại hệ thống các giải thưởng. Nên xác định một số lượng giải thưởng nhất định, ví dụ: giải thưởng cho công trình, sản phẩm KH-CN xuất sắc (hiện đã có giải thưởng Hồ Chí Minh và giải thưởng Nhà nước về KH-CN), giải thưởng dành cho nhà khoa học xuất sắc hằng năm (tương tự The Man of the Year), giải thưởng dành cho tác phẩm báo chí xuất sắc nhất hằng năm, giải thưởng dành cho tổ chức KH-CN hoạt động tốt nhất, giải thưởng dành cho doanh nghiệp KH-CN xuất sắc nhất. Loại bỏ bớt các giải thưởng mang tính tự phát, phong trào và không thực chất hiện đang lan tràn. Điều cần thiết là huy động các nguồn kinh phí để có mức thưởng cao tương xứng với giải thưởng.

Tập trung phát triển lĩnh vực công nghệ cao


Năm 2009, khoa học công nghệ tập trung phát triển một số lĩnh vực công nghệ cao, trước mắt là công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, chú trọng nghiên cứu về tế bào gốc, vắc-xin, giống cây trồng vật nuôi mới, công nghệ phần mềm, công nghệ vi điện tử và quang tử...