Giá cả tăng chưa có nghĩa là lạm phát

Nếu chỉ số giá tiêu dùng năm 2004 khoảng 9% thì lợi ích do gửi tiết kiệm 12 tháng sẽ vẫn tiếp tục là con số âm Giá tiêu dùng 6 tháng đầu năm 2004 tăng 7,2% so với tháng 12-2003, vượt qua mức chỉ tiêu Quốc hội cho phép là 4,4%. Đây là mức tăng giá cao nhất trong 8 năm trở lại đây.

Nhìn nhận sự tăng giá trên như thế nào và cần có những giải pháp nào để kiểm soát và kiềm chế tốc độ tăng giá của những tháng còn lại là nội dung chính của cuộc tọa đàm do Cục Quản lý giá - Bộ Tài chính tổ chức hôm qua (7-7) tại Hà Nội.

Tăng giá có đồng nghĩa với lạm phát?

Mặc dù nhận định về bản chất của sự tăng giá tiêu dùng trong 6 tháng đầu năm vẫn do nguyên nhân khách quan, lạm phát vẫn trong tầm kiểm soát của Nhà nước, nhưng ông Ngô Trí Long, Viện Nghiên cứu Khoa học thị trường giá cả, đặt câu hỏi: Bản chất của sự tăng giá tiêu dùng trong 6 tháng đầu năm 2004 có đồng nghĩa với lạm phát hay không?

Theo ông Long, bản chất của sự lạm phát đã được các nhà kinh tế thừa nhận là toàn bộ sức mua thực tế của đồng nội tệ giảm xuống cả về đối nội và đối ngoại. Nhìn lại sức mua

Ba nhóm giải pháp

Tiến sĩ Tăng Văn Bền đã đề xuất 3 nhóm giải pháp:

1. Nếu chúng ta theo đuổi mục tiêu kiềm chế lạm phát và coi đây là hướng ưu tiên hàng đầu thì cần áp dụng những giải pháp như dùng công cụ lãi suất thắt chặt tiền tệ, kiểm soát gắt gao các chi tiêu của Chính phủ.

2. Nếu chúng ta theo đuổi mục tiêu tăng trưởng và xem đây là hướng ưu tiên hàng đầu, chúng ta sẵn sàng chấp nhận lạm phát ở mức độ cho phép, lúc đó chúng ta lại tập trung vào các giải pháp như tăng cường gọi vốn đầu tư, phát triển mạnh các khu công nghiệp, các khu chế xuất, các ngành sản xuất ra nhiều loại sản phẩm dịch vụ... Thậm chí chúng ta có thể chủ động phá giá đồng nội tệ ở mức độ cho phép để đẩy mạnh xuất khẩu. Lúc này tăng mạnh vốn đầu tư lại được đặt lên hàng đầu.

3. Kết hợp các giải pháp mang tính chiến lược lâu dài với sử dụng các biện pháp mang tính tình thế. Các giải pháp tình thế là: cắt giảm ngay tức khắc sản lượng gạo xuất khẩu, điều hòa kế hoạch và thời gian xuất khẩu hợp lý để bảo đảm cân bằng cung cầu về lương thực trong nước, không để xảy ra đột biến về giá lương thực... Cần lưu ý rằng, trong các giải pháp chống lạm phát thì giải pháp tăng lãi suất là giải pháp cơ bản nhất có tác động toàn diện nhất...

G. Linh

của đồng VN trong 6 tháng qua cho thấy sức mua đối nội đã giảm 7,2%, trong khi tỉ giá ngoại tệ tương đối ổn định (đồng VN so với USD chỉ tăng 0,2%). Như vậy, mức độ tăng giá tiêu dùng 6 tháng qua với mức độ lạm phát là không đồng nhất bởi sự tăng giá tiêu dùng và lạm phát của VN không giống nhau về mức độ. Trên thế giới, khi tính lạm phát cơ bản người ta loại trừ những yếu tố đột biến về giá lương thực thực phẩm và năng lượng, nếu theo phương pháp này thì lạm phát tại VN vào thời điểm tháng 6 sẽ thấp hơn 7,2%. “Cách tính chỉ số giá tiêu dùng hiện nay của VN vẫn còn nhiều điểm chưa hợp lý, hiện tượng tăng giá vừa qua là bất thường đột biến, không phải là dấu hiệu của lạm phát cao ở VN, khác với lạm phát trong thời kỳ 1985-1997” - ông Long nhấn mạnh.

Tiến sĩ Bùi Quốc Bảo, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Khoa học thị trường giá cả, đồng tình: Nếu loại bỏ một số hàng nhạy cảm ra khỏi rổ hàng hóa để tính chỉ số lạm phát cơ bản như nhiều nước đang làm thì chỉ số lạm phát của 5 tháng đầu năm 2004 của VN chỉ là 1,78% và so với cùng kỳ là 2,65% (con số này của Mỹ trong 5 tháng đầu năm 2004 tương ứng là 1,8% và 2,3%).

Ảnh hưởng các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô

Tuy nhiên, khi xem xét về mối quan hệ giữa tốc độ lạm phát và tốc độ tăng trưởng kinh tế trong 6 tháng đầu năm, ông Long cho rằng có những biểu hiện không tốt (theo quy luật tốc độ tăng trưởng kinh tế phải cao hơn tốc độ lạm phát mới hợp lý và bảo đảm cho nền kinh tế phát triển có hiệu quả). Nhưng 6 tháng đầu năm trong khi chỉ số giá tiêu dùng tăng 7,2% thì tốc độ tăng trưởng kinh tế chỉ tăng 7,03%. “Dù nguyên nhân nào, thì sự tăng giá tiêu dùng 6 tháng đầu năm cao như vậy sẽ tác động tiêu cực đến việc thực hiện các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô” - ông Long nói.

Tiến sĩ Tăng Văn Bền, Viện Nghiên cứu kinh tế và Phát triển ĐH Kinh tế Quốc dân, cho rằng: Mặc dù chúng ta đang thực hiện một chính sách tiền tệ thận trọng (tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu tiền tệ chính đều thấp hơn so với cùng kỳ năm trước, phù hợp với diễn biến tỉ lệ tăng giá), song chênh lệch giữa tốc độ tăng trưởng nguồn vốn tín dụng và nguồn vốn huy động còn khá lớn làm cho tổng dư nợ cho vay toàn nền kinh tế ngày càng cao hơn nguồn vốn huy động. Theo tính toán của Viện Nghiên cứu Khoa học thị trường giá cả: So với lãi suất huy động vốn của các ngân hàng thương mại, kho bạc thì giá tiêu dùng trong 6 tháng đầu năm tăng cao hơn lãi suất huy động kỳ hạn năm chỉ khoảng 0,6% và ở các kỳ hạn ngắn thì còn thấp hơn nữa. Tốc độ tăng giá tiêu dùng bình quân 6 tháng đầu năm lên đến 1,2%/tháng đã làm cho lãi suất thực âm. “Và nếu đúng như các chuyên gia đã dự báo chỉ số giá tiêu dùng năm 2004 là khoảng 9% thì lợi ích do gửi tiết kiệm 12 tháng hay cả năm 2004 vẫn tiếp tục là con số âm”.