Loại bỏ các điều kiện kinh doanh không cần thiết (*): Vẫn còn nhiều rào cản
"Giấy phép con", quy định chồng chéo và cách hiểu chưa thống nhất làm gia tăng chi phí và rủi ro cho doanh nghiệp
Ngày 14-4, trao đổi với phóng viên Báo Người Lao Động, hầu hết người dân, doanh nghiệp (DN) và các chuyên gia đều cho rằng việc cắt giảm thủ tục hành chính đã được làm rất quyết liệt trong thời gian qua nhưng thực tế vẫn tồn tại nhiều thủ tục, điều kiện kinh doanh gây cản trở hoạt động sản xuất - kinh doanh.
Vướng "giấy phép con"
Đối với ngành gạo, hơn một năm qua, nhiều DN thương mại đã phải rời thị trường do vướng quy định tại Nghị định 01/2025/NĐ-CP của Chính phủ (sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 107/2018/NĐ-CP về kinh doanh xuất khẩu gạo), với yêu cầu bắt buộc phải có giấy phép xuất khẩu gạo.
Chủ một DN chuyên xuất khẩu nông sản tại TP HCM cho biết sau khi gạo ST25 đoạt giải "Gạo ngon nhất thế giới" năm 2019, cộng đồng Việt kiều và người châu Á có nhu cầu dùng thử rất lớn, tạo cơ hội cho các công ty thương mại tham gia xuất khẩu.

Ngưỡng tối đa kim loại nặng trong thủy hải sản khô đang được quy định như thủy hải sản tươi .Ảnh: NGỌC ÁNH
Hình thức xuất khẩu khi đó là hợp đồng 3 bên (thường gọi là xuất khẩu ủy thác) gồm nhà nhập khẩu, DN và công ty có giấy phép xuất khẩu gạo. Thông thường, công ty có giấy phép xuất khẩu gạo kiêm cung cấp nguồn hàng và gia công, đóng gói theo yêu cầu; DN của ông sẽ làm tiếp thị, tìm kiếm khách hàng, ký kết hợp đồng và nhận tiền. "Công ty tôi từng xuất khẩu từ 300 - 400 container gạo cao cấp mỗi năm, nhưng đã ngừng một năm nay rồi. Thời gian đầu, chúng tôi bị mất uy tín với đối tác, phải đền hợp đồng" - chủ DN này nói.
Sau đó, phân khúc gạo này được chia cho nhiều đối thủ, trong đó có cả DN nước ngoài, bởi nhiều DN gạo Việt có giấy phép xuất khẩu nhưng lại thiếu năng lực thương mại.
Lý giải vì sao không làm giấy phép xuất khẩu gạo trực tiếp, chủ DN này cho hay điều kiện để có giấy phép buộc phải đầu tư nhiều, vốn lớn trong khi hoạt động của DN chưa cần đến. Từ thực tế này, DN kiến nghị bỏ quy định giấy phép xuất khẩu gạo hoặc cho phép quay lại cơ chế xuất khẩu ủy thác như trước, nhằm tận dụng các đơn hàng quy mô nhỏ nhưng giá trị cao.
Không chỉ ngành gạo, lĩnh vực thủy sản cũng đang đối mặt nhiều rào cản thể chế. Trong đó, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) là nơi thường xuyên tập hợp các khó khăn, vướng mắc mà ngành hàng gặp phải.
Mới đây, liên quan đến phát triển kinh tế biển và nuôi trồng thủy sản, VASEP đã có văn bản nêu nhiều khó khăn liên quan thủ tục hành chính làm tăng chi phí tuân thủ và kéo dài thời gian triển khai, ảnh hưởng kế hoạch đầu tư, mở rộng sản xuất của DN.
Một số bất cập đáng chú ý gồm: chưa có cơ chế pháp lý cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng linh hoạt đối với thủy sản nhập khẩu từ sản xuất - xuất khẩu, gia công - xuất khẩu sang tiêu thụ nội địa và ngược lại, gây lãng phí nguồn lực của DN và chưa đồng bộ với pháp luật về hải quan; thiếu khung pháp lý cho đầu tư tư nhân vào hạ tầng thủy lợi, cấp - thoát nước phục vụ nuôi trồng thủy sản, làm đình trệ nhiều dự án đầu tư tư nhân; quy định bắt buộc DN trong khu công nghiệp phải đấu nối nước thải vào hệ thống xử lý nước thải tập trung, kể cả khi DN đã tự xử lý nước thải đạt chuẩn cao nhất của Quy chuẩn Việt Nam, dẫn đến chi phí tuân thủ cao và chưa phù hợp thực tiễn.
Hay như vướng mắc trong Quy chuẩn Việt Nam về giới hạn ô nhiễm trong thực phẩm nhóm kim loại nặng (như Cd, Pb, Hg...) khi không phân biệt giữa thủy sản tươi và thủy sản khô, gây khó khăn cho DN kinh doanh sản phẩm thủy sản khô tại thị trường nội địa.
Bởi lẽ, nồng độ kim loại nặng trong hàng khô thường cao hơn do quá trình sấy khô đã loại bỏ bớt nước trong sản phẩm. Trong khi quy định tại một số thị trường nhập khẩu lớn như Liên minh châu Âu, Hàn Quốc đã cho phép áp dụng các ngưỡng khác nhau đối với thủy sản tươi và thủy sản khô.
Để phù hợp với thông lệ quốc tế và bản chất khoa học của sản phẩm, VASEP kiến nghị Bộ Y tế xem xét ban hành một văn bản pháp lý quy định hệ số chuyển đổi (theo hệ số làm khô) mức giới hạn tối đa cho phép (MRL) khi kiểm tra chỉ tiêu kim loại nặng và các chất ô nhiễm khác đối với thủy sản khô.
Ngành gỗ "kẹt" thủ tục, rủi ro thuế
Với ngành gỗ, ông Phùng Quốc Mẫn, Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP HCM (HAWA), cho biết các DN xuất khẩu đang gặp khó trong thủ tục chứng minh nguồn gốc gỗ hợp pháp.
Theo ông, quy trình hiện còn nhiều tầng nấc, dễ trùng lặp giữa cơ quan kiểm lâm, hải quan và DN. Do đó, cộng đồng DN kiến nghị cắt giảm các loại giấy tờ trùng lặp, thống nhất đầu mối quản lý, đồng thời đẩy mạnh số hóa hồ sơ truy xuất nguồn gốc.
Ngoài ra, cần áp dụng cơ chế quản lý rủi ro theo mức độ tuân thủ của DN và giảm tần suất kiểm tra trước đối với các đơn vị chấp hành tốt.
Các DN còn phản ánh bất cập trong chính sách thuế, đặc biệt là thuế giá trị gia tăng (GTGT). Cách hiểu và áp dụng thuế đối với gỗ sơ chế hiện chưa thống nhất giữa các địa phương, khiến DN khó xác định đúng thuế suất, tiềm ẩn rủi ro bị truy thu và xử phạt.
Đặc biệt, thời gian hoàn thuế kéo dài, phải bổ sung hồ sơ nhiều lần, trong khi cơ chế "kiểm tra trước - hoàn sau" còn thiếu minh bạch. Điều này khiến dòng tiền của DN bị "treo", ảnh hưởng trực tiếp đến thanh khoản và hoạt động sản xuất - kinh doanh.
Ông Phan Đức Quí, Phó Giám đốc Công ty TNHH Vy Trân, cho biết vướng mắc phát sinh ngay từ chuỗi cung ứng gỗ nguyên liệu. Theo thực tế sản xuất, DN thu mua gỗ tròn từ người dân hoặc đơn vị trồng rừng. Đây là nguyên liệu thô, thuộc diện không chịu thuế GTGT.
Sau đó, DN tiến hành sơ chế như xẻ, sấy để tạo phôi gỗ và bán cho các công ty sản xuất bàn ghế, giường tủ phục vụ xuất khẩu. Theo quy định, các giao dịch đối với gỗ nguyên liệu thô trong chuỗi này không phải kê khai, nộp thuế GTGT 8%.
Tuy nhiên, trên thực tế lại phát sinh nhiều cách hiểu khác nhau. Có DN chế biến yêu cầu bên bán phải xuất hóa đơn có thuế GTGT 8% và sẵn sàng thanh toán phần thuế này. Ngược lại, có DN chỉ chấp nhận hóa đơn không có thuế GTGT" - ông Quí nói.
Sự thiếu thống nhất này khiến DN rơi vào thế bị động, đặc biệt rủi ro lớn nhất nằm ở khâu quyết toán thuế. Trong trường hợp DN đã xuất hóa đơn GTGT 8%, thu tiền và nộp thuế vào ngân sách, song sau đó cơ quan chức năng xác định giao dịch không thuộc diện kê khai, nộp thuế, DN buộc phải điều chỉnh hóa đơn. Hệ lụy là DN phải hoàn trả phần thuế 8% cho khách hàng, trong khi số tiền này đã nộp vào ngân sách. Việc xin hoàn lại từ cơ quan nhà nước thường rất khó khăn và kéo dài.
Theo ông Quí, dù DN đã gửi công văn hỏi cơ quan thuế nhưng chỉ nhận được trả lời mang tính dẫn chiếu quy định chung, không xác định rõ trường hợp cụ thể có phải kê khai, nộp thuế hay không.
"DN cần câu trả lời rõ ràng là có hay không việc xuất hóa đơn GTGT, nhưng lại nhận được hướng dẫn chung chung. Trong khi đó, nếu làm sai thì DN phải chịu hoàn toàn trách nhiệm, thậm chí bị xử phạt nặng" - ông Quí lo ngại.
Từ thực tế trên, DN kiến nghị cơ quan quản lý sớm ban hành hướng dẫn cụ thể, thống nhất trên toàn quốc đối với hoạt động mua bán, sơ chế và tiêu thụ gỗ nguyên liệu. Điều này không chỉ giúp DN yên tâm sản xuất mà còn giảm rủi ro pháp lý, tránh thất thoát tài chính và tiết kiệm thời gian xử lý thủ tục.
(Còn tiếp)
(*) Xem Báo Người Lao Động từ số ra ngày 14-4
Áp lực tuân thủ gia tăng
Đại diện một DN bán lẻ thực phẩm và sữa tại TP HCM cho rằng thời gian qua, các chính sách thay đổi khá nhanh, số lượng văn bản lớn nhưng thiếu hướng dẫn cụ thể, trong khi cách hiểu giữa các cơ quan chưa thống nhất, khiến DN khó xác định phương án tuân thủ phù hợp. Điển hình là Nghị định 46/2026/NĐ-CP trong lĩnh vực an toàn thực phẩm từng gây ách tắc hàng hóa tại cửa khẩu, làm phát sinh chi phí lưu kho, lưu bãi và ảnh hưởng tiến độ giao hàng.
Dù đã được tạm hoãn nhưng trong thời gian đầu áp dụng, nhiều lô hàng bị đình trệ từ 7 đến 10 ngày. "Chúng tôi từng bị vướng 2 container hàng, phải điều chỉnh kế hoạch kinh doanh, xả hàng sau Tết, chi phí đội lên hàng trăm triệu đồng. Con số này nếu nhân rộng ra toàn ngành sẽ rất lớn, ảnh hưởng đáng kể đến nền kinh tế" - đại diện DN này chia sẻ.
Ngoài ra, các quy định mới về thương mại điện tử, bảo vệ dữ liệu cá nhân và hóa đơn điện tử cũng làm gia tăng áp lực tuân thủ. DN phải đáp ứng đồng thời nhiều yêu cầu về lưu trữ dữ liệu, quy trình thông báo và quản lý thông tin, trong khi nguồn lực còn hạn chế, đặc biệt với DN nhỏ.
Trong bối cảnh quy định ngày càng nhiều nhưng chưa rõ ràng, cách áp dụng chưa thống nhất và chế tài xử phạt ngày càng nghiêm khắc, DN buộc phải thận trọng hơn trong hoạt động kinh doanh. Thực tế, DN đã thu hẹp quy mô từ hơn 10 công ty con xuống còn 6 công ty con.
"Điều quan trọng nhất hiện nay không phải là ban hành thêm quy định mới, mà là bảo đảm tính minh bạch, dễ hiểu, thủ tục rút gọn và thống nhất. Khi đó, DN mới có thể dự đoán được và áp dụng nhất quán, qua đó giảm gánh nặng thủ tục và tạo môi trường kinh doanh ổn định, bền vững hơn" - đại diện DN nêu trên bày tỏ.