Ô tô Việt và cuộc đua nâng tỉ lệ nội địa hóa

Dù thị trường tăng trưởng mạnh, ngành ô tô Việt vẫn đối mặt thách thức lớn về nội địa hóa

Thủ tướng vừa ban hành quyết định phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035 với mục tiêu nâng tỉ lệ nội địa hóa ngành ô tô lên 22%-30% vào năm 2030 và 32%-40% vào năm 2035.

Phụ thuộc linh kiện nhập khẩu

Để thực hiện mục tiêu trên, Thủ tướng giao các bộ, ngành, cơ quan liên quan nghiên cứu, rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách và các quy định pháp luật nhằm khuyến khích, hỗ trợ và thu hút đầu tư phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ.

Đánh giá tình hình thực hiện Chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035, Viện Nghiên cứu chiến lược, chính sách công thương - Bộ Công Thương cho biết tỉ lệ nội địa hóa đối với xe tải thực tế đã đạt 40%-45%, hoàn thành mục tiêu đề ra cho giai đoạn đến năm 2020. Tuy nhiên, tỉ lệ nội địa hóa đối với xe đến 9 chỗ mới đạt 12%-20%, thấp hơn khá nhiều so với mục tiêu 30%-40%.

Ô tô Việt và cuộc đua nâng tỉ lệ nội địa hóa - Ảnh 1.

Mục tiêu nội địa hóa ngành ô tô giai đoạn tới cần gắn với chiến lược phát triển xe điện

Linh kiện nội địa hóa chủ yếu là các chi tiết cồng kềnh, giản đơn, sử dụng nhiều nhân công, giá rẻ như ghế, ắc-quy, nhựa cỡ lớn... Các cụm linh kiện phức tạp hiện nay chưa sản xuất được; phần lớn linh kiện yêu cầu hàm lượng chất xám, hàm lượng kỹ thuật cao đều phải nhập khẩu.

Ông Phạm Văn Quân, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp - Bộ Công Thương, dẫn số liệu cho thấy đến năm 2025, tỉ lệ nội địa hóa của VinFast đã đạt khoảng 60%. Trong khi đó, một số doanh nghiệp (DN) có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) trong lĩnh vực ô tô dù đã hoạt động tại Việt Nam hơn 30 năm nhưng tỉ lệ nội địa hóa vẫn chưa đạt mức cam kết 40%, thậm chí nhiều dòng xe chỉ đạt 10%-15%.

Nhận xét về ngành ô tô Việt Nam, ông Koo Bon Kyung, Tổng Giám đốc Cơ quan Xúc tiến thương mại và đầu tư Hàn Quốc khu vực Đông Nam Á và châu Đại Dương, nêu rõ thị trường nội địa đang tăng trưởng mạnh mẽ, với doanh số năm 2025 tăng hơn 10% so với cùng kỳ. Sự phát triển của DN ô tô nội địa như VinFast cùng với việc mở rộng sản xuất của các tập đoàn toàn cầu như Hyundai, Kia, Toyota... đang góp phần đưa Việt Nam trở thành một trung tâm sản xuất ô tô mới tại khu vực Đông Nam Á.

Song, ông Koo Bon Kyung cho rằng bên cạnh sự tăng trưởng nhanh về quy mô, ngành ô tô Việt Nam vẫn đối mặt với thách thức lớn về tỉ lệ nội địa hóa linh kiện cũng như sự hoàn thiện của chuỗi cung ứng vật liệu và linh kiện then chốt. Do đó, cần xây dựng một chuỗi giá trị công nghiệp bền vững, bứt phá khỏi giai đoạn lắp ráp, hướng tới làm chủ từ nguyên vật liệu đến sản phẩm hoàn chỉnh để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành.

Khuyến khích đầu tư công nghiệp hỗ trợ

Để nâng cao tỉ lệ nội địa hóa, theo TS Ngô Nhật Thái, chuyên gia ô tô, cần có những chính sách hỗ trợ phù hợp. Chẳng hạn, rà soát lại hệ thống biểu thuế để điều chỉnh theo hướng thực sự khuyến khích sản xuất trong nước và thúc đẩy ngành công nghiệp ô tô phát triển.

Ông Thái dẫn chứng phần thân xe đang được hưởng một số ưu đãi về thuế nên DN đã tập trung đầu tư sản xuất. Trong khi đó, nhiều linh kiện, phụ tùng quan trọng như hệ thống truyền động, hệ thống lái, hệ thống điện tử... vẫn chủ yếu được nhập khẩu nguyên chiếc vì mức thuế hiện hành chưa tạo động lực để DN nội địa hóa các sản phẩm này. "Nếu tỉ lệ thuế được điều chỉnh hợp lý, các nhà sản xuất ô tô sẽ có động lực tập trung nội địa hóa linh kiện nhằm giảm chi phí thuế" - chuyên gia này nhìn nhận.

Bên cạnh đó, Nhà nước cần có chính sách khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, đặc biệt là các linh kiện, phụ tùng có nhu cầu lớn và được sử dụng rộng rãi trong ngành ô tô nhưng hiện chưa được khuyến khích sản xuất trong nước. Nếu được khuyến khích, sẽ có những DN chuyên sản xuất linh kiện, phụ tùng để cung ứng cho nhiều hãng ô tô trong nước.

Bộ Công Thương đang xây dựng dự thảo Chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, thay thế chiến lược ban hành từ năm 2014. Mục tiêu đặt ra đến năm 2045, tỉ lệ nội địa hóa ngành ô tô đạt 85%-90%; giá trị xuất khẩu phương tiện vận tải và linh kiện, phụ tùng đạt 30-40 tỉ USD. Qua đó, đưa Việt Nam tham gia sâu và có vị thế cao hơn trong chuỗi giá trị ô tô toàn cầu. Bên cạnh đó, việc chuyển đổi sang sản xuất và cung ứng các dòng xe thân thiện môi trường, sử dụng năng lượng sạch, năng lượng xanh cũng được đẩy mạnh.

Hiện Bộ Công Thương đã triển khai nhiều giải pháp thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ. Trong đó, bộ tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định 205/2025 sửa đổi, bổ sung Nghị định 111/2015 về phát triển công nghiệp hỗ trợ. Tuy nhiên, trong bối cảnh mới, nhiều nội dung đã bộc lộ sự lạc hậu, cần tiếp tục cập nhật, đặc biệt đối với các lĩnh vực mới như xe điện, pin lưu trữ và năng lượng tái tạo. Trên cơ sở đó, các chính sách ưu đãi cũng đang được hoàn thiện theo hướng thúc đẩy hình thành và phát triển chuỗi cung ứng trong nước.

"Một trong những tiêu chí đáng chú ý là các DN FDI muốn hưởng ưu đãi trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ phải có sự tham gia của ít nhất một DN Việt Nam trong chuỗi cung ứng. Các sản phẩm được hưởng ưu đãi phải có hàm lượng khoa học - công nghệ nhất định, thay vì chỉ dừng ở lắp ráp đơn thuần" - ông Quân nhấn mạnh yêu cầu. 

Đề xuất lập Quỹ Đầu tư phát triển công nghiệp

Bộ Công Thương đang lấy ý kiến góp ý dự thảo Luật Công nghiệp trọng điểm. Sản phẩm công nghiệp trọng điểm là sản phẩm ưu tiên phát triển trong các ngành vật liệu, cơ khí chế tạo, công nghiệp sinh học, dệt may, da giày, công nghiệp hỗ trợ.

Trong đó, Quỹ Đầu tư phát triển công nghiệp được thành lập để hỗ trợ cho các hoạt động đầu tư, sản xuất sản phẩm công nghiệp trọng điểm, sản phẩm công nghệ chiến lược trong các ngành công nghiệp trọng điểm. Cùng với đó, DN được hỗ trợ tối đa 70% kinh phí thuê chuyên gia, nhà khoa học trong nước và quốc tế phục vụ nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, sản xuất các sản phẩm công nghiệp trọng điểm.

L.Thúy

TS TRƯƠNG THỊ CHÍ BÌNH, Phó Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp Hỗ trợ Việt Nam (VASI):

Khó tham gia chuỗi cung ứng xuất khẩu

Phần lớn sản phẩm của ngành công nghiệp hỗ trợ ô tô trong nước hiện mới dừng ở linh kiện đơn lẻ thay vì các cụm linh kiện hoàn chỉnh. Các sản phẩm này chủ yếu phục vụ thị trường nội địa, rất khó tham gia vào chuỗi cung ứng xuất khẩu.

Ngành ô tô đang thay đổi rất nhanh trong khi quy mô thị trường Việt Nam còn nhỏ - tổng dung lượng chỉ khoảng 400.000 xe/năm, bao gồm cả xe nhập khẩu và xe lắp ráp trong nước. Điều này khiến các DN sản xuất linh kiện gặp nhiều khó khăn trong việc đạt sản lượng đủ lớn để tối ưu chi phí và đáp ứng yêu cầu về nguồn cung ổn định, lâu dài của nhà sản xuất. Có những tập đoàn nước ngoài đã hoàn tất quá trình chuẩn bị đầu tư vào Việt Nam nhưng khi bước vào giai đoạn triển khai nhà máy lại phải tạm dừng để chờ đợi tín hiệu thị trường.

Nhiều DN sản xuất linh kiện ô tô đang thua lỗ ngay trên các dây chuyền hiện có do sản lượng quá thấp. Để tồn tại và phát triển, các DN cần có chiến lược dài hạn, dám đầu tư, tối ưu hóa chi phí sản xuất và từng bước nâng cấp từ sản xuất linh kiện đơn lẻ lên các cụm linh kiện có giá trị gia tăng cao hơn.

Ông HỒ NGỌC TOÀN, Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Thiết bị và Giải pháp Cơ khí Automech:

Liên kết thành tổ hợp

Thách thức lớn nhất của DN cơ khí trong nước là bài toán quy mô đầu tư. Khi chuyển đổi từ mô hình thương mại sang sản xuất, chúng tôi dự kiến đầu tư nhà máy rộng 3 ha. Tuy nhiên, sau khi khảo sát nhiều khu công nghiệp, chúng tôi nhận thấy chi phí thuê đất quá cao, nguồn vốn chỉ đủ đáp ứng diện tích khoảng 1 ha.

Đa số DN cơ khí trong nước sở hữu mặt bằng vài ngàn mét vuông, quá nhỏ so với các tập đoàn nước ngoài đầu tư hàng chục, thậm chí hàng trăm hecta. Mặt khác, Việt Nam tuy có hàng ngàn DN cơ khí nhưng năng lực liên kết còn hạn chế nên chưa tạo được sức mạnh tổng hợp. Các DN cần liên kết thành những tổ hợp sản xuất, trong đó mỗi đơn vị đảm nhận một công đoạn chuyên biệt để nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh.

Điểm yếu lớn nhất của DN Việt Nam hiện nay là năng lực thiết kế. Trong nước có rất ít DN làm chủ được khâu này. Trong khi đó, khách hàng nước ngoài thường yêu cầu sử dụng tiêu chuẩn, vật liệu và quy trình của họ, dù nhiều loại nguyên liệu trong nước hoàn toàn có thể đáp ứng. Do đó, việc đầu tư phát triển đội ngũ thiết kế và nghiên cứu phát triển (R&D) được xem là yếu tố then chốt để DN Việt từng bước làm chủ công nghệ, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Nguyễn Hải ghi