Có sai phạm nhưng đã làm hết trách nhiệm (?)
Ngày 21-5, TAND TPHCM tiếp tục phần thẩm vấn đối với các bị cáo trong nhóm kỹ thuật xét thầu 10.000 chiếc điện kế điện tử (ĐKĐT) gồm: Huỳnh Ngọc Thành, Lê Văn Tinh, Nguyễn Văn Hiệp, Thiều Túc và Võ Thành Long
HĐXX tập trung làm rõ chức năng, nhiệm vụ của từng bị cáo trong nhóm này, mâu thuẫn trong việc catalogue và mẫu ĐKĐT có ghi “Linkton Vina Company Ltd” nhưng hồ sơ dự thầu chào điện kế sản xuất ở Singapore, nhà sản xuất Linkton.
Về điểm này, các bị cáo đều cho rằng chỉ quan tâm đến các thông số kỹ thuật, không quan tâm đến xuất xứ của hàng hóa cũng như dòng chữ L.V ghi trên đó, vì đây là phần việc của nhóm tài chính thương mại pháp lý (đánh giá sơ bộ về tính pháp lý của hồ sơ chào thầu), hơn nữa nghĩ rằng L.S và L.V cũng là một.
Trong khi kiểm tra về mặt kỹ thuật, các bị cáo thừa nhận có phát hiện những khiếm khuyết như: phạm vi hiệu chỉnh sai số từ -2% đến + 2%; màn hình chỉ thị 5 ký tự (không hiển thị phần thập phân). Nhưng khiếm khuyết này đã được nhà thầu cam kết sẽ khắc phục nên mới đề nghị phương án đánh giá này đạt (tuy nhiên, việc nhà thầu có khắc phục hay không thì các bị cáo không biết vì không tham gia nghiệm thu).
Các bị cáo cũng cho rằng đã làm hết trách nhiệm được giao, không có động lực gì để cố ý làm trái, nếu có sai sót là do chủ quan, không có thời gian xem xét kỹ hồ sơ. Vì thế, cáo trạng truy tố tội cố ý làm trái là oan cho các bị cáo.
Chiều cùng ngày, HĐXX tiến hành thẩm vấn các bị cáo trong nhóm tội sản xuất và buôn bán hàng giả, gồm: Trần Thị Liên, Trần Công Điền, Phan Hữu Quang, Đặng Thị Kim Liên và Nguyễn Trọng Hiếu. Theo đó, L.V là doanh nghiệp liên doanh (vốn đầu tư nước ngoài với tỉ lệ 65% của Công ty L.S và 35% của Công ty TNHH-TM Quang Trung) do Wong Jutin Kaleung (đã bỏ trốn) làm chủ tịch HĐQT, Trần Thị Liên làm phó chủ tịch. Mục tiêu và phạm vi kinh doanh của L.V là sản xuất và lắp ráp các thiết bị phục vụ ngành điện.
Ngày 21-11-2003, Wong Kaho (phó tổng giám đốc L.V) ký hợp đồng thuê nhà của vợ chồng ông Lê Văn Hoành (đường Hồ Văn Huê, quận Phú Nhuận-TPHCM) làm văn phòng giao dịch, trưng bày sản phẩm. Dẫu vậy, sau khi trúng thầu cung cấp ĐKĐT cho Công ty Điện lực TPHCM, L.V đã nhập khẩu (bo mạch, các linh kiện đồng hồ kỹ thuật số của Trung Quốc) và mua linh kiện trong nước đưa về đây để sản xuất, lắp ráp 312.000 ĐKĐT một pha nhưng trên hồ sơ giao hàng lại thể hiện ĐKDT này được sản xuất tại Singapore.
Tại tòa, bị cáo Trần Thị Liên cho rằng ông Jutin là người trực tiếp mua bán, nhập hàng, bị cáo không biết rõ về những việc này. “Với chức danh là phó chủ tịch HĐQT, ông Jutin kêu ký các hồ sơ thì bị cáo ký”- bị cáo Liên trình bày.
Các bị cáo còn lại cũng khai rằng chỉ làm theo nhiệm vụ công ty giao, bản thân không biết gì về việc L.S trúng thầu của Công ty Điện lực TPHCM với nội dung hàng hóa phải có xuất xứ từ Singapore mà chỉ biết việc lắp ráp 312.000 ĐKĐT để giao cho Công ty Điện lực TPHCM, hơn nữa việc sản xuất này làm công khai nên không thắc mắc gì.
Hôm nay, 22-5, tòa tiếp tục thẩm vấn các bị cáo.