Lênh đênh kiếp sống Biển Hồ

Biển Hồ của Campuchia mênh mông như... biển. Giữa mênh mông đó, có một ngôi làng người Việt. Không biết đã bao đời và lý do gì mà họ lưu lạc, sống phiêu bạt trên sóng nước hoang vu này.

Biển Hồ danh tiếng, còn người sống trên hồ thì vô danh và khốn khó. Mặc dù cách cố quốc không bao xa nhưng chẳng mấy ai đủ điều kiện bước về. Đêm trên bể nước buồn tênh không tiếng chuông chùa gợi nhớ giấc mơ "giang phong ngư hoả", tôi chỉ nghe tiếng thở dài của những người tha phương, sầu như nghe một thi khúc cổ: "Cử đầu kiến minh nguyệt/ Đê đầu tư cố hương" (Ngẩng đầu nhìn trăng sáng/ Cúi đầu nhớ quê nhà).

Biển rộng mà đời hẹp

Thằng Nộm lái chiếc xuồng máy đưa tôi ra Biển Hồ - nơi có cộng đồng người Việt sinh sống. Nộm lưng trần trong nắng, da đỏ au và mình vạm vỡ như một chiến binh Viking. Đầu mũi là thằng Bình, nó là đứa có học vấn cao nhất trong cộng đồng, hắn 15 tuổi, đã học hết lớp 5. Thằng Bình học cao vì nhà khá giả, có khả năng chi xuồng máy cho nó đi học ở trường Miên trong chợ. Thằng Bình nhanh nhảu, vì từng giao tiếp với bạn học. Thằng Nộm rất ít nói, đơn giản bởi vì nó không biết đọc, biết viết, không biết gì hết ngoài hồ nước mà nó sinh ra và ngụp lặn 17 năm nay. Nộm vừa cưới vợ, vợ Nộm cũng là một người Việt lênh đênh trên hồ. Hai đứa không đứa nào biết chữ, mà chuyện trai gái cần chi chữ nghĩa chứ. Còn lấy nhau rồi thì nghề đánh cá và Biển Hồ là đủ cho đời người.

Nắm xong sơ yếu lý lịch của hai cậu nhóc đưa đường thì xuồng vừa cập đến nhà ông phó ấp 7 , xã Chong Khnies. Ông tên Dương Văn Hai, sinh sống ở đây từ năm 1981. Như mọi nhà ở trên hồ, nhà ông Hai là chiếc bè bập bềnh. Trên đó là người vợ và 3 đứa con ngồi tréo chân ngắm nước (vì không có chi ngoài nước). Cả 3 đứa con của ông Hai đều không được học hành gì. Mà học ở đâu bây giờ? Chúng nó nghe ông bà nói tiếng Việt thì nói tiếng Việt, đơn giản như loài người hiểu nhau qua tiếng hú thuở man khai. Thằng Phục là đứa lớn nhất; hỏi mấy tuổi, Phục không nhớ; ông Hai cũng chỉ nhớ mang máng: "Hình như nó 25 tuổi".

Phục chỉ tay ra chiếc xuồng có cô gái và mấy đứa nhỏ, giới thiệu đó là vợ con của anh. Phượng - vợ của Phục bán hàng tạp hoá, cửa hàng là chiếc thuyền nhỏ cũng là căn nhà. Buôn bán ở đâu? Loanh quanh làng người Việt trên Biển Hồ. Chị Phượng thi thoảng vào bờ lấy hàng, riêng Phục coi như khỏi cần biết gì ngoài chống xuồng lui tới, mấy chục năm trời không đi đâu ra khỏi mặt nước. Không phải chỉ riêng Phục, hầu hết thanh thiếu niên trên hồ không hề đi đâu, không biết gì ngoài cụm người Việt của họ. Tôi gặp Sóng - một thanh niên 20 tuổi, con của một gia đình buôn bán trên hồ. Sóng rất đẹp trai, nhưng không biết chữ. Không biết bờ, không biết xe đạp, xe máy... Cũng như bạn bè bên cạnh, Sóng ra đời và tồn tại hồn nhiên như sóng, như gió trên Biển Hồ.

Có trường thiếu thầy, có thầy thiếu sách

Biết có nhà báo VN sang thăm, ông Hồ Văn Lẹ - Thư ký ấp, ôm luôn sổ sách của ấp sang bè ông Hai. Tôi cũng lẹ như ông Lẹ, ghi ngay vào sổ: "Việt kiều sống trên hồ gồm 356 hộ, 1.845 nhân khẩu, trong đó có 1.001 nam". Ông Lẹ năm nay 49 tuổi, có 5 đứa con, con ông Lẹ cũng không được đi học. Nhà ông Lẹ cũng có xuồng ghe để cho con đi học, nhưng bọn trẻ đi thì nhà mất một tay lưới cá, tay giăng câu. Chung quanh mọi người đều không đi học thì học hành là chuyện xa xỉ, là... không việc gì phải học. Nghe bàn chuyện học, ông Hai sực nhớ là có trường và bảo Nộm đưa tôi đến trường học đầu tiên trên Biển Hồ. Trường là chiếc bè như những căn nhà khác, chỉ có điều dùng làm lớp học, và là chỗ trú thân của thầy giáo.

Tôi không thể hình dung nổi trên đời lại có thể có một "ngôi trường" độc đáo như "trường nổi" này. Một con thuyền chạy qua là trường chao nghiêng, học trò lênh đênh như sóng. Trường không bóng cây, góc phượng, không sân trường và đặc biệt là không một cuốn sách. Thầy Võ Ngọc Thành - giáo viên đầu tiên và duy nhất của trường cho biết toàn trường có 74 học sinh, trong đó có 15 em lớp 2, còn lại là lớp 1. Các em đi học chay vì không có một cuốn sách nào. Ngày 23.10.2004, thầy Thành có làm đơn gửi Tổng Lãnh sự quán VN để xin 60 bộ sách tập đọc tiếng Việt, 40 bộ vần, 1 bình acquy, một bộ sách hướng dẫn giảng dạy. Sau 2 tháng gửi thì đơn mới tới được nhà ông phó ấp mà tôi vừa ghé. Đơn còn nằm đó vì chưa có ai có điều kiện đi Siem Riep để gửi, mặc dù từ bờ đi đến trung tâm huyện Siem Riep chưa đầy 20km.

Khi tôi trao đổi với thầy Thành, ông Nguyễn Văn Sau (65 tuổi) Trưởng hội Phụ huynh học sinh của trường đến thăm trường và góp thêm thông tin. Ông Sau là đời thứ 3 của dòng họ ông sống trên Biển Hồ. Trước đây không có trường dạy tiếng Việt, chỉ có trong gia đình dạy cho nhau thôi. Cách đây mấy năm, Tổng Lãnh sự quán VN cho 1.700USD để làm trường. Dân trong ấp mừng lắm, nhưng lại không có thầy dạy. Vừa rồi, thầy Võ Ngọc Thành - là bộ đội phục viên - tình nguyện đến sống ở Biển Hồ và làm thầy giáo, bà con như bắt được của. Thầy chưa có nhà ở nên ở tạm trong phòng học của nhà trường. Đằng trước là bàn ghế, đằng sau là chỗ thầy ngủ. Mỗi em đi học, một buổi đóng 300r (tương đương 1.100VND).Từ ngày có thầy, con em tập trung được hai lớp, lớp 1 và lớp 2.

Lớp 1 thì có 1A và 1B. Lớp 1A gồm những em đã lớn rồi nhưng chưa có chữ nào. Số em đi học chiếm tỉ lệ rất ít so với đối tượng cần phải được xoá mù chữ. Nhưng cũng từ khi có thầy đến nay, các em chưa thấy được một thứ mà thầy giáo gọi là : "Sách". Còn việc học hành của các em có hy vọng gì loé lên không, hãy nghe thầy Thành tâm sự: "Trường có 74 em nhưng thường xuyên vắng 13 - 15 em. Có khi các em không có phương tiện đi lại, hoặc theo cha mẹ đi đánh cá không về kịp".

Cô đơn trên đất khách

Tôi hỏi những người cao tuổi ở Biển Hồ, không ai trả lời được nguồn gốc người Việt đến đây định cư và tạo thành cộng đồng như ngày nay. Ông Trần Văn Song (42 tuổi), nói rằng cha mẹ sinh sống ở đây và đẻ ông ra trên Biển Hồ. Ông không biết quê quán ở VN, cha mẹ cũng không nói cho ông biết. Rồi đám con của ông, biết nói tiếng Việt, nhưng không có khái niệm về quê cha đất tổ, về máu mủ dân tộc, chỉ biết sớm tối giăng lưới, giăng câu. Thanh niên lập gia đình cũng chỉ lui tới những hộ sống trên hồ. Như chị Võ Thị Muội (22 tuổi), lấy chồng người Việt làm nghề đánh cá. Chị cũng biết mình là người Việt, còn người Việt như thế nào, có quan hệ gì với cuộc đời của chị không thì chị không hề quan tâm. Tôi hỏi có bao giờ đọc sách báo, coi phim ảnh gì về VN không, chị nói không ai biết chữ nên trên Biển Hồ không bao giờ có sách báo. Còn TV thì xem chương trình của đài truyền hình địa phương bằng tiếng Campuchia.

Trong thời đại bây giờ thiếu thốn điều kiện để học hành, để tiếp cận với văn minh, văn hoá là một thiệt thòi rất lớn đối với cộng đồng người Việt sống trên Biển Hồ. Còn về việc kiếm sống, khắp nơi đồn rằng Biển Hồ Campuchia có nhiều cá, ngư dân làm ăn khấm khá nên nhiều nơi đổ xô về đây kiếm sống. Nhưng có đến mới biết họ sống nghèo khổ như thế nào. Tôi chứng kiến có nhà nguyên bọn trẻ 4 đứa trần truồng không có áo mặc. Có nhà khoang thuyền vừa đủ treo chiếc võng. Mấy trăm hộ dân ở đây, từ người lớn cho đến trẻ con, phần lớn là ngày ngày ngoài biển, đêm đêm ngoài biển. Nhiều người lớn tuổi nói rằng phận người sống xa quê hương ở đâu cũng chịu những cay đắng, tủi hờn, đều có khi bị người ta "ăn hiếp".

Sống bằng nghề đánh cá, kiếm cái ăn từng ngày, còn phải đóng thuế, đóng nhiều chi phí hợp lý và vô lý khác nữa cho địa phương và cho những cá nhân có chức quyền, có trách nhiệm quản lý địa bàn nên họ chẳng khá nổi. Tôi hiểu được tâm sự cũng như cái nghèo, cái khổ của họ. Nhiều người nghèo đến nỗi dựng vợ gả chồng cho con rồi mà không có nổi 500.000r (2 triệu đồng) để cho con ra bè riêng (loại bè rẻ tiền nhất). Sống trên hồ, không có khái niệm tranh chấp đất đai, sổ đỏ, sổ hồng, chỉ cần có khoản tiền nhỏ là có ngay "cái nhà", tiền nhiều thì nhà to mấy cũng được, không sợ lấn sang ranh "đất" của ai. Ấy vậy mà nhiều nhà ở chồng ở chất, chiếc bè chỉ bé bằng bàn tay.

Đưa tôi về, Nộm nói rằng mai mốt sẽ cho con đi học ở trường Campuchia trong chợ. Tôi động viên là học ở đâu cũng được, nhưng bằng mọi giá phải cho con cái đến trường. Ông Hai, ông Lẹ siết tay tôi nói rằng nhớ nước mình quá. Thế hệ của các ông vẫn còn nặng lòng với quê hương. Từ lâu rồi, họ quyết dồn tiền về VN chơi một lần mà dồn cả chục năm không đủ. Nhìn ông Hai long lanh nước mắt, nhìn đám trẻ con lặn ngụp trong nước, tôi thấy xót xa cho bà con mình. Họ không là của nước mình đang ở, không là của nước mình đã đi, không tiền bạc, không chữ nghĩa, không mảnh đất cắm dùi. Chỉ có một phận người phải sống để mà qua.