Sống chết bám giữ rừng

Giữ cho rừng không cháy, giữ cho lâm tặc không tấn công là nhiệm vụ gian khổ của những người đang ngày đêm âm thầm bám giữ, bảo vệ từng gốc cây, ngọn cỏ U Minh

Từ Quốc lộ 63, một con đường nhựa thẳng tắp chạy vào khu vực hồ Hoa Mai, trung tâm Vườn Quốc gia (VQG) U Minh Thượng. Hai bên đường, lau sậy um tùm và những trảng ngập đầy nước, không một bóng tràm. Anh Nguyễn Văn Nhiên, cán bộ Ban Quản lý VQG U Minh Thượng, giải thích: “Vạt rừng này bị cháy rụi năm 2002, đến nay chưa tái sinh được”. Tôi leo lên chòi canh lửa ở hồ Hoa Mai, nhìn một đỗi xa mới thấy bóng rừng tràm thấp thoáng.

Kỳ lão U Minh và trận cháy rừng lịch sử

Nói về U Minh mà không nhắc đến “kỳ lão U Minh”, “người của rừng” Mười Đởm (Bành Văn Đởm, nguyên giám đốc VQG U Minh Thượng) xem như chưa biết gì về khu rừng này. Ông Mười Đởm từ nhỏ đã sống với rừng U Minh Thượng, lớn lên tham gia cách mạng và chiến đấu ngay trong rừng. Hòa bình, ông Mười tiếp tục làm lãnh đạo một trại giam cạnh rừng U

Ông Bành Văn Đởm, nguyên giám đốc VQG U Minh Thượng, ngậm ngùi: “Tốc độ phá rừng của con người không gì sánh nổi: Sau năm 1975, rừng U Minh Thượng còn rộng hơn 50.000 ha, đến nay chỉ còn hơn 21.000 ha”.

Minh Thượng. Về hưu rồi nhưng nể lời anh em, ông nhận trông coi khu rừng, rồi làm giám đốc VQG U Minh Thượng. Hơn 70 năm gắn bó với rừng, ông Mười thuộc từng ngóc ngách của U Minh Thượng. Sự đời thật trớ trêu, cả đời làm cách mạng trong rừng, sống chết bám giữ rừng nhưng vừa cầm quyết định giữ chức giám đốc VQG U Minh Thượng chưa nóng tay thì ông Mười Đởm bị kỷ luật vì để xảy ra vụ cháy rừng lịch sử năm 2002, quét sạch rừng nguyên sinh tại đây.

Tôi đến ngôi nhà nhỏ bên rừng thăm ông Mười vào lúc nắng chiều đã tắt. “Kỳ lão U Minh” vẫn khỏe mạnh, quắc thước, giọng nói vẫn rổn rảng như ngày nào. Nhắc đến chuyện rừng, ông Mười cứ lảng tránh. Một cán bộ VQG U Minh Thượng nhắc tôi: “Ông già không đau vụ bị kỷ luật nhưng vẫn chưa thể nguôi ngoai chuyện để cháy mất hàng ngàn ha rừng nguyên sinh”. Nhưng rồi, niềm đam mê trong ông lại bùng cháy khi tôi cứ tìm cách khơi gợi. Ông Mười quên cả đập muỗi, trò chuyện, giảng giải say sưa về U Minh. Tôi ngắm ông, lòng tự hỏi, tại sao một con người cả đời gắn bó, giữ gìn từng gốc cây, ngọn cỏ U Minh, xem sự tồn vong của rừng còn quý hơn mạng sống bản thân, lúc cuối đời lại phải nhận án kỷ luật vì không thể chỉ huy một nhúm người ngăn cản hàng ngàn dân nghèo lén lút xâm nhập vào 8.038 ha rừng nguyên sinh kiếm sống, gây thảm họa cháy rừng?

Kham khổ còn hơn dân vùng đệm

Những ngày ở U Minh, tôi nghe nhiều người thường nhắc tên Tư Đèn, Hạt Phó Kiểm lâm VQG U Minh Thượng. Tư Đèn vốn là dân công an chuyển qua, từ nhỏ đã gắn bó với rừng nên đường ngang ngõ tắt ở đây anh đều am tường. Tôi gặp Tư Đèn lúc anh vừa trong rừng về, quần áo tóc tai sũng nước. Hỏi chuyện đời sống, công việc của anh em kiểm lâm, Tư Đèn bảo: “Ngoài hạt thì ăn nhằm gì, mấy đứa bám chốt trong rừng mới khổ trăm bề”. Tư Đèn nói, hạt kiểm lâm của anh có 50 người với 9 chốt đặt trong rừng, bảo vệ 8.038 ha rừng cấm. Bình quân mỗi người phải giữ 160 ha rừng. Từ hạt xuống chốt, nơi xa nhất đi mất một giờ, nơi gần nhất cũng nửa giờ. Lương thực, nhu yếu phẩm mua từ những chiếc ghe bán hàng lưu động trên các tuyến kênh ngoài vùng đệm. Tư Đèn bộc bạch: “Anh em sống rất khổ, lương hợp đồng chỉ có 400.000 đồng/tháng, điện đóm không có nên cũng chẳng biết vui chơi giải trí gì, chỉ tuần tra, kiểm soát và... ngủ”.

Ở VQG U Minh Hạ cũng tương tự. Quyền Giám đốc Nguyễn Văn Thế cho biết, mỗi kiểm lâm viên ở đây phải giữ hơn 103,5 ha rừng. Nhiều chốt, anh em kiểm lâm sống giữa vùng nước phèn chua lét, phải đi xa vài cây số đường rừng để chở nước ngọt dùng. “Đời sống kiểm lâm viên khốn khổ, thiếu thốn còn hơn dân nghèo vùng đệm, nhưng vì nhiệm vụ mà phải chấp nhận”- ông Thế chặc lưỡi.

“Người rừng”... ế vợ!

Chốt kiểm lâm số 21 trong VQG U Minh Thượng là một căn nhà vách ván rệu rã, nền đất nhơm nhớp, mái trống trước, hụt sau. Một chàng kiểm lâm gầy gò, da xanh mét, thấy có khách lạ liền mừng tíu tít. Võ Thanh Điền, mới 23 tuổi, làm kiểm lâm hơn 2 năm, nói: “Ở đây còn 2 người nữa nhưng đi gác hết rồi”. Tôi nhìn quanh, trong nhà, ngoài chiếc bàn làm việc xộc xệch, 3 chiếc giường gỗ cũ kỹ, chiếc tủ gỗ mối gặm còn có chiếc tivi trắng đen 14 inches. Điền bảo: “Hư hỏng hết trơn rồi anh”. Điền cho biết, anh em ở đây đêm đêm chỉ biết chui vào mùng chống muỗi rồi ngủ sớm, trời mưa thì thay nhau hứng nước để dành uống. Ở mỗi đầu giường cá nhân đều có một chiếc đèn hột vịt bé xíu. Điền giải thích: “Họa hoằn lắm mới có anh em ở các chốt khác ghé thăm, lai rai đỡ buồn. Mấy cây đèn dầu này để dành tiếp khách”.

img
Kiểm lâm Võ Thanh Điền thu gom tang vật đánh bắt cá, trăn của “lâm tặc” U Minh Thượng. Ảnh: H. Anh

Dường như lâu lắm không được tiếp xúc người ngoài, gặp tôi, Điền vui tở mở, chuyện trò ríu rít. Hỏi tới chuyện riêng tư, Điền chùng giọng: “Lương em có 400.000 đồng/tháng, lâu lâu còn phải về nhà xin tiền cha mẹ, đâu dám tính xa. Ở giữa rừng có gặp đứa con gái nào đâu mà yêu với thương?”. Ngập ngừng một hồi, Điền thổ lộ: “Về quê dạm hỏi, đánh tiếng thì cô nào cũng chê mình là... người rừng, chẳng ai ưng”. Tôi hỏi Điền về chuyện lâm tặc. Điền hào hứng chỉ đống lưới đánh cá trước sân: “Đây là tang vật hơn 20 vụ, toàn là dân vào rừng bắt cá, bắt trăn”. Tôi băn khoăn: “Không sợ bị họ trả thù sao?”. Điền thừa nhận: “Sợ chứ anh. Từ trước đến nay, em cũng bị hăm he mấy lần. Nhưng mà ở trạm có súng, hễ ai làm quá thì em bắn chỉ thiên cầu cứu rồi... chạy!”

* * *

Lúc chia tay U Minh, anh Tư Đèn tiễn tôi bằng một bữa tiệc đơn sơ đọt choại nhúng lẩu rắn bông súng. Rượu ngà say, Tư Đèn nhìn quanh quất, băn khoăn: “Trời, ông từ xa tới đây mà không biết lấy thứ gì tặng làm kỷ niệm, bậy quá!”. Nhăn nhó một hồi, Tư Đèn lột phắt chiếc nón tai bèo bạc phếch đang đội trên đầu, mượn cây bút nắn nót ghi từng chữ trên vành “Tư Đèn U Minh Thượng tặng”, rồi trịnh trọng đưa cho tôi.