Sửa đổi nhiều quy định về làm giấy khai sinh, kết hôn, thuận lợi hơn cho người dân

(NLĐO)- Không bắt buộc xuất trình, nộp bản giấy các giấy tờ tùy thân khi đăng ký hộ tịch nếu thông tin đã có trong hệ thống Cơ sở dữ liệu.

Chính phủ ban hành Nghị định số 18 sửa đổi, bổ sung một số nghị định để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp. Trong đó, đáng chú ý là các quy định sửa đổi liên quan đến vấn đề hộ tịch.

Sửa đổi thủ tục khai sinh và kết hôn từ 15 - 1 giúp đơn giản hóa quy trình - Ảnh 1.

Không bắt buộc xuất trình, nộp bản giấy các giấy tờ tùy thân khi đăng ký hộ tịch nếu thông tin đã có trong hệ thống Cơ sở dữ liệu (Ảnh minh hoạ)

Về vấn đề hộ tịch, Nghị định số 18 đã sửa đổi, bổ sung một số điều, khoản của Nghị định số 123 năm 2015 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch.

Theo đó, bổ sung quy định về xuất trình, nộp giấy tờ khi đăng ký hộ tịch theo hướng quy định rõ cơ chế giải quyết thủ tục dựa trên dữ liệu điện tử, hạn chế yêu cầu xuất trình giấy tờ bản chính. Đồng thời, quy định rõ phương thức xử lý khi không khai thác được thông tin hoặc thông tin không chính xác.

Cụ thể, người yêu cầu đăng ký hộ tịch, cấp bản sao trích lục hộ tịch có trách nhiệm xuất trình bản chính của một trong các giấy tờ sau đây: Hộ chiếu, Thẻ căn cước công dân, Thẻ căn cước, Giấy chứng nhận căn cước hoặc giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp, còn giá trị sử dụng (sau đây gọi là giấy tờ tùy thân) để chứng minh về nhân thân khi làm thủ tục trực tiếp tại cơ quan đăng ký hộ tịch.

Trường hợp giấy tờ tùy thân sử dụng là: Hộ chiếu, Thẻ Căn cước, Căn cước công dân, Giấy chứng nhận căn cước thì chỉ cần cung cấp thông tin về giấy tờ (số, ngày tháng năm cấp) hoặc số định danh cá nhân, cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm tra cứu thông tin thông qua kết nối với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư hoặc cơ sở dữ liệu khác có liên quan để đối chiếu, khai thác dữ liệu.

Trường hợp không khai thác được thông tin hoặc thông tin khai thác được không đầy đủ, không chính xác thì cơ quan đăng ký hộ tịch yêu cầu người đi đăng ký hộ tịch xuất trình bản chính giấy tờ để chứng minh, đồng thời đề nghị người đi đăng ký hộ tịch cập nhật, điều chỉnh thông tin trong các cơ sở dữ liệu theo quy định của pháp luật.

Nghị định cũng đã sửa đổi, bổ sung về thủ tục xác nhận tình trạng hôn nhân đã ly hôn hoặc có vợ/chồng chết và quy định về việc đăng ký lại khai sinh, kết hôn, khai tử theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính. Người yêu cầu chỉ cần cung cấp thông tin về giấy tờ; không bắt buộc xuất trình/nộp bản giấy nếu thông tin đã có trong hệ thống cơ sở dữ liệu.

Cụ thể, trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã có vợ/đã có chồng nhưng đã ly hôn tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền hoặc vợ/chồng đã chết và đã đăng ký khai tử tại cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền thì người yêu cầu có trách nhiệm cung cấp thông tin về giấy tờ (cơ quan cấp/đăng ký, số, ngày tháng năm ban hành Bản án/Quyết định ly hôn/Giấy chứng tử/Trích lục khai tử).

Cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm tra cứu, khai thác thông tin của các giấy tờ này thông qua kết nối với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Cũng theo Nghị định 18, người yêu cầu đăng ký lại khai sinh, kết hôn, khai tử có trách nhiệm cung cấp đầy đủ tất cả giấy tờ, tài liệu có nội dung liên quan đến việc đăng ký lại.

Trường hợp giấy tờ, tài liệu là giấy tờ hộ tịch hoặc giấy tờ cá nhân thuộc nhóm giấy tờ có thể được thay thế bằng dữ liệu (giấy tờ tùy thân; giấy tờ chứng minh về nơi cư trú; Thẻ bảo hiểm y tế) thì cung cấp các thông tin về giấy tờ, tài liệu đó theo hướng dẫn của cơ quan chủ quản cơ sở dữ liệu, cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm tra cứu, khai thác thông tin, giấy tờ, tài liệu đó thông qua kết nối với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu khác có liên quan.

Ngoài ra, Nghị định cũng sửa đổi, bổ sung về quy trình xác minh hồ sơ đối với đề nghị đăng ký lại khai sinh và đăng ký lại kết hôn khi thực hiện tại UBND cấp xã không phải nơi đăng ký trước đây theo hướng cán bộ tư pháp kiểm tra thông tin về việc đăng ký khai sinh/kết hôn trước đây trên Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử thông qua nghiệp vụ cấp bản sao.

Sau đó, dùng kết quả tra cứu này là căn cứ để xác định về điều kiện đăng ký lại. Thay vì phải cần xác nhận văn bản từ UBND nơi đăng ký khai sinh/kết hôn trước đây.

Cụ thể như sau, trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, công chức tư pháp - hộ tịch kiểm tra, xác minh hồ sơ. Nếu việc đăng ký lại khai sinh là đúng theo quy định của pháp luật thì công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện đăng ký lại khai sinh như trình tự quy định tại Luật Hộ tịch.

Nếu việc đăng ký lại khai sinh được thực hiện tại UBND cấp xã không phải là nơi đã đăng ký khai sinh trước đây thì công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện tra cứu thông tin về việc đăng ký khai sinh trước đây của người yêu cầu trên Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử thông qua nghiệp vụ cấp bản sao, kết quả tra cứu là căn cứ xác định đủ điều kiện hoặc không đủ điều kiện đăng ký lại.

Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, công chức tư pháp - hộ tịch kiểm tra, xác minh hồ sơ. Nếu thấy hồ sơ đăng ký lại kết hôn là đầy đủ, chính xác, đúng quy định pháp luật thì công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện đăng ký lại kết hôn như trình tự quy định tại Luật Hộ tịch.

Nếu việc đăng ký lại kết hôn thực hiện tại UBND cấp xã không phải là nơi đã đăng ký kết hôn trước đây thì công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện tra cứu thông tin về việc đăng ký kết hôn trước đây của người yêu cầu trên Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử thông qua nghiệp vụ cấp bản sao, kết quả tra cứu là căn cứ xác định đủ điều kiện hoặc không đủ điều kiện đăng ký lại.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15-1-2026.