Ăn uống và nguy cơ béo phì ở trẻ

Ở trẻ em, chiều cao chưa ổn định, để đánh giá dư cân, béo phì, người ta thường chọn tiêu chuẩn cân nặng theo chiều cao chứ không kể theo tuổi.

Ở Mỹ, người ta thống kê thấy nếu cả cha lẫn mẹ béo phì, xác suất đứa con bị béo phì là 80%. Chỉ có một trong hai người bị béo phì thì xác suất là 40%. Trường hợp cả hai đều bình thường thì xác suất béo phì còn có 7%. Cũng ở Mỹ, người ta thấy khoảng 14% trẻ béo phì lúc dưới 1 tuổi thì khi lớn lên sẽ bị béo phì. Tương tự, 40% trẻ bị béo phì ở tuổi lên 7; 70% trẻ 10 - 14 tuổi bị béo phì.

Nguyên nhân trẻ béo phì

1. Tỉ lệ calo do chất béo: Tình trạng “sổ sữa” của trẻ trong năm đầu có thể coi như một dạng béo phì “sinh lý”, đặc biệt là do lượng chất béo trong sữa chiếm 50% tổng số calo. Cùng với thời kỳ ăn dặm, làm quen dần với các thức ăn khác, tỉ lệ năng lượng do chất béo giảm dần, từ đó hình dáng bé sẽ bớt mũm mĩm.

Trên 1 tuổi, chế độ ăn của trẻ nên theo bữa ăn gia đình bởi càng cho ăn ít rau, đậu, nhiều thịt, cá, trứng, sữa thì càng dễ tăng cân.

2. Mức sống cao, trẻ ít bú mẹ, ít vận động: Dù “sữa mẹ là tốt nhất...” nhưng trẻ con càng ngày càng ít được nuôi bằng sữa mẹ vì nhiều lý do... Đến tuổi đi học, trẻ lại được đưa đón tới trường, đi xe gắn máy nhiều hơn xe đạp.

3. Sớm tiếp cận với thức ăn nhanh: Sữa hộp, bột dinh dưỡng, mì ăn liền, đường, bánh kẹo, các thứ “snack”, nước ngọt có gas, kem, vitamin, thuốc bổ... là những thứ khiến trẻ em xa cách thức ăn thiên nhiên cộng tâm lý muốn con sổ sữa, tăng cân nhiều cũng là nguyên nhân khiến trẻ dễ béo phì.

4. Bữa ăn gia đình bị máy truyền hình chi phối. Tệ nhất là vừa xem tivi, vừa ăn, chịu ảnh hưởng xấu của quảng cáo khuyến khích ăn snack “giòn”, uống nước ngọt có gas.

5. Học nhiều, ngủ ít: Học sinh ngủ trễ nên giấc ngủ giảm tác dụng, làm hại sức khỏe và ảnh hưởng việc tăng chiều cao (kích thích tố tăng trưởng tiết ra nhiều nhất là lúc ngủ say, miễn là đi ngủ sớm trước 21 giờ).

Thế thì phải làm gì?

1. Phục hồi nếp sống gia đình, sửa đổi sao cho có lợi cho chiều cao hơn là số cân của đứa trẻ (từ giờ ăn, giờ ngủ, giờ xem tivi v.v...).

2. Khuyến khích vận động, đi bộ, đạp xe đạp, chơi thể thao, bơi lội, thỉnh thoảng cả nhà nên tổ chức đi dã ngoại.

3. Trong nhà chỉ ăn ở bàn ăn hay mâm cơm, không ăn “mọi lúc mọi nơi”.

4. Tính nhu cầu năng lượng theo số cân phù hợp với lứa tuổi. Về sữa, trẻ hơn 1 tuổi, không nên cho uống quá 2 ly sữa, giảm bớt chất béo/ngày.

5. Cho ăn theo tháp dinh dưỡng (chú trọng vào rau, đậu, trái cây giàu vi chất và chất xơ, thịt nạc, cá, sữa ít béo...).

6. Giới hạn số giờ xem tivi, khi xem không ăn vặt.