Tai nạn đường sắt nhìn từ sức khỏe tâm thần người lái tàu
100% công nhân lái tàu có vấn đề về tâm lý, xã hội. 32,8% ưu tư trầm cảm và 36,9% có tính không ổn định. Năm 2001 đã xảy ra 700 vụ tai nạn đường sắt, trong đó có 1 vụ nghiêm trọng, 4 vụ nặng, 104 vụ nhẹ, 17 vụ vi phạm quy trình quy phạm an toàn và 574 vụ tai nạn khác.
Theo đánh giá của các chuyên gia ngành đường sắt, số vụ tai nạn nghiêm trọng, tai nạn nặng đã giảm so với năm 2000. Tuy nhiên, đáng chú ý là có 5,4% các vụ tai nạn trong năm 2001 là do chủ quan của người lái tàu gây ra.
Đây là vấn đề được ngành đường sắt quan tâm và một đề tài nghiên cứu về tình trạng sức khỏe tâm thần của người lái tàu hỏa đã được Trung tâm Y tế dự phòng đường sắt và Bệnh viện Tâm thần Trung ương tiến hành trên 65 công nhân lái tàu tốc hành Bắc - Nam, đoạn Hà Nội - Đà Nẵng và ngược lại. Những công nhân này có tuổi đời từ 22 đến 48 tuổi, có thời gian công tác từ 1 đến 26 năm. Theo bác sĩ Lý Thị Hoa, Giám đốc Trung tâm Y tế dự phòng đường sắt, các chỉ số đánh giá độ tập trung, chú ý, trí nhớ của công nhân lái tàu bình thường, chỉ có sự suy giảm rõ rệt từ độ tuổi trên 40. Tuy nhiên, các yếu tố về môi trường và điều kiện lao động của các lái tàu lại rất đáng lo ngại. Có tới 55% các mẫu khảo sát về tiếng ồn trong cabin các loại đầu máy đều vượt tiêu chuẩn cho phép. Ngoài ra, vận tốc gió ở phần lớn các điểm đo đều không đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn. Giữa các lần lái, nhiều trường hợp chưa được nghỉ ngơi đủ thời gian hợp lý nên cũng làm tăng nguy cơ về thần kinh, tâm lý. Kết quả nghiên cứu còn cho thấy cả mạch và huyết áp của lái tàu đều tăng lên rõ rệt sau ca làm việc. Đặc biệt là có 24,6% lái tàu có biểu hiện bệnh lý ở tim, với các đặc điểm như bloc nhánh, ngoại tâm thu thất thưa và rối loạn dẫn truyền trong thất nhẹ... Nhiều lái tàu còn có biểu hiện hạ kali trong máu, giảm nhịp tim và có những biến đổi về chức năng của nơron vỏ não... Ngoài ra, còn phải kể tới con số 100% công nhân lái tàu có các vấn đề tâm lý, xã hội: bệnh tật, tai nạn, mâu thuẫn gia đình, cơ quan và hơn 23% cho rằng công việc lái tàu là nặng nhọc mà thu nhập lại thấp, căng thẳng thần kinh.
Theo bác sĩ Lê Quang Hồng, nguyên giám đốc Bệnh viện Bưu điện, những kết quả này rất đáng quan tâm. Bởi lẽ trong giao thông đường sắt, chỉ cần lái tàu dừng trước hoặc sau mốc quy định 1 mét thôi đã bị coi là nguy hiểm và may mắn mới không gây hậu quả nghiêm trọng. Tình trạng số lượng lái tàu có khí chất trầm cảm và nóng nảy còn khá lớn là điều đáng lo ngại. Đây là loại khí chất không phù hợp với công việc lái tàu, xe và nếu họ làm công việc đó nguy cơ xảy ra vi phạm quy trình quy phạm, tai nạn cao hơn nhiều so với nhóm khí chất bình thản. Còn giáo sư Tô Như Khuê, một trong những chuyên gia đầu ngành về sinh lý học lao động và tâm lý học kỹ thuật, cho biết ở nhiều nước trên thế giới việc tuyển chọn công nhân làm các nhiệm vụ đặc thù như: phi công, thợ lặn, lái tàu... đều được tiến hành hết sức cẩn thận. Tức là ngoài sức khỏe thể chất, còn phải thử xem họ có tố chất tinh thần phù hợp với công việc đó hay không. Sau đó, còn có các kỳ khám sức khỏe định kỳ hoặc sau các biến cố (ốm, tai nạn...) để loại những người không còn đảm bảo sức khỏe tâm thần. Đây còn được coi là kỹ thuật thần kinh tâm lý hiện đại và đang được sử dụng rộng rãi tại nhiều nước. Chính nhờ việc tuyển chọn kỹ càng này mà hàng năm tại Pháp đã giảm được 16,5% số vụ tai nạn giao thông. Tại Liên Xô trước đây, việc tuyển chọn kỹ cũng đã làm giảm 17% số người và 21% số ngày nghỉ do ốm đau. Tại Việt
Kết quả nghiên cứu cho thấy, về nhân cách của công nhân lái tàu loại khí chất bình thản chiếm 53,8%, loại ưu tư trầm cảm 32,8%, loại khí chất nóng nảy chiếm 7,8% và loại linh hoạt 5,6%. Về cảm xúc, 65,1% số nghiên cứu có tính ổn định, 36,9% có tính không ổn định và 90,8% có xu hướng hướng nội, sống nội tâm.