Tấm lòng người thầy bao la như đại dương

Từ những giờ học căng thẳng trên giảng đường tới chiếc bánh Trung thu cuối buổi học..., tất cả đã in sâu vào ký ức của học viên

Những điều đó theo chúng tôi trên mỗi chuyến hành trình bám biển.

Chiều hôm đó, khi đang luyện tập phương án chiến đấu, tôi nhận được cuộc gọi của đại tá Lê Xuân Kính, nguyên Trưởng Bộ môn sô-na Khoa Thông tin ra-đa - Học viện Hải quân, cho biết thầy đang đưa gia đình vào Vũng Tàu nghỉ. Chỉ một câu ngắn gọn của thầy đã khiến bao ký ức thời học viên trong tôi ùa về, vừa hồi hộp vừa mong ngóng.

"Thương cho roi cho vọt"

Tôi lập tức báo tin cho 2 học viên khóa dưới, từng học chuyên ngành sô-na, đang công tác cùng đơn vị. Ba anh em đứng chờ đại tá Lê Xuân Kính và gia đình trước cổng đơn vị, trong tâm thế của những học trò sắp được gặp lại người thầy cũ sau nhiều năm xa cách. Khi thầy xuất hiện cùng vợ và 2 cô con gái, cảm giác như cả một bầu trời kỷ niệm xưa chợt mở ra với tôi.

Tấm lòng người thầy bao la như đại dương - Ảnh 1.

Đại tá Lê Xuân Kính (ôm hoa) chụp hình lưu niệm với học viên. Ảnh: ĐẶNG ĐỒNG

Bước đến, nắm chặt tay thầy, cảm giác thân quen xen chút rụt rè rất đỗi học trò khiến tôi bỗng bồi hồi, xuyến xao với bao kỷ niệm đang lũ lượt ùa về. Thầy hỏi han từng người, giọng trầm ấm, chậm rãi. Mái tóc thầy đã bạc đi theo năm tháng, nhưng nụ cười hiền hậu của những ngày đứng lớp vẫn còn nguyên vẹn. Đặc biệt, ánh mắt từng dõi theo từng thao tác căng thẳng trên giảng đường vẫn sáng và ấm, đủ để gợi lại những tiết học đầy áp lực.

Tấm lòng người thầy bao la như đại dương - Ảnh 2.

Đại tá Lê Xuân Kính. (Ảnh do nhân vật cung cấp)

Trong bữa cơm chiều, thầy trò chúng tôi ôn lại chuyện cũ, người nào chăm chỉ học hành, ai không thuộc bài cũ; ai hay làm tắt, đấu nối ẩu...

Khi đó, tôi học lớp chuyên ngành ra-đa, sô-na (KRS16), thầy Kính dạy chúng tôi môn cơ sở thủy âm và khai thác khí tài sô-na, máy thông tin ngầm. Lớp chúng tôi được chia thành 2 khu tách biệt nhau, khu học lý thuyết và khu thực hành. Khu thực hành nằm ở tầng 4 sở chỉ huy, đầy đủ máy móc trang bị, từ linh kiện điện tử cho đến các thiết bị đo như đồng hồ, máy hiện sóng...

Tấm lòng người thầy bao la như đại dương - Ảnh 3.

Thầy Lê Xuân Kính (ngoài cùng bên trái) khi tham gia học tập tại Liên Xô (Ảnh do nhân vật cung cấp)

Sô-na được đánh giá là một trong những chuyên ngành khó nhất của học viện chúng tôi. Vì vậy mà thầy vào lớp luôn trong dáng vẻ nghiêm khắc. Ai chưa biết còn nói thầy khó tính vì hay kiểm tra bài cũ và cho nhiều điểm 2. Sau này, khi học thầy đã lâu, chúng tôi mới thấm thía câu "thương cho roi cho vọt".

Câu nói mà thầy thường nhắc đi nhắc lại trong mỗi buổi học: "Trong chiến đấu, chỉ có chuyên môn mới giữ được mạng cho mình và đồng đội", chúng tôi nghe mãi nên thuộc nằm lòng. Lúc ấy, khi còn là những chàng trai ngây ngô ngồi trên giảng đường không rành sự đời, chúng tôi không thấm thía hết được. Nhưng sau này, khi ra đơn vị công tác, đối mặt nhiều tình huống oái ăm, chúng tôi mới thấy câu nói ấy đắt giá đến mức nào.

Mỗi buổi học, sau giờ giảng lý thuyết, thầy lại trải tấm sơ đồ mạch lớn trên bàn, dùng bút gõ cạch cạch rồi hỏi liên tiếp: Con trở này nằm đâu trên máy? Tín hiệu từ đây sang đây đi qua những khối nào, tìm lỗi bắt đầu từ đâu?... Thầy chỉ cần liếc qua là biết ai học thật, ai học thuộc. Thầy đứng ngay sau lưng chúng tôi, không mắng, không cáu gắt nhưng một ánh mắt đủ khiến học trò không dám đo ẩu, ghi bừa.

Đặt nền móng cho ngành thủy âm

Trong những buổi học căng thẳng, để đổi không khí, thầy Lê Xuân Kính lại kể cho chúng tôi nghe những câu chuyện đời mình. Qua từng câu chuyện ấy, chúng tôi mới biết thầy là một trong những sĩ quan Việt Nam đầu tiên được cử đi học chuyên ngành sô-na. Những giáo trình thủy âm, sô-na được giảng dạy hôm nay phần lớn đều do thầy trực tiếp dịch, biên soạn và hoàn thiện trong những năm đầu xây dựng lực lượng.

Thầy thường nhắc về quãng thời gian học tập ở Liên Xô, miệt mài tìm kiếm, chắt chiu từng tài liệu chuyên ngành hiếm hoi; về những chuyến công tác sang Triều Tiên tiếp nhận các chiếc tàu ngầm đầu tiên - tiền thân của lực lượng tàu ngầm được biên chế về Trung đoàn 196 sau này. Đó là nền móng quan trọng cho công tác huấn luyện, đào tạo đội ngũ sĩ quan tàu ngầm của Hải quân nhân dân Việt Nam.

Thầy Kính chính là người đặt những viên gạch đầu tiên cho ngành thủy âm, sô-na, truyền lửa cho bao thế hệ sĩ quan hải quân. Học trò của thầy có người sau này từng giữ những cương vị quan trọng như Chính ủy Quân chủng Hải quân, Chính ủy Vùng Hải quân...

Trên bục giảng, thầy dẫn dắt chúng tôi từ những kiến thức căn bản nhất: cơ sở thủy âm, vùng tối âm, các dạng môi trường âm, cách tàu ngầm đối phương ẩn mình..., cho đến cách xử lý những tình huống mất tiếp xúc. Thầy luôn nhắc chúng tôi phải học cho chắc, cho sâu, để quản lý, làm chủ vũ khí trang bị; phải yêu và gắn bó với chuyên ngành sô-na, một lĩnh vực khó khăn nhưng vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp bảo vệ biển đảo của Tổ quốc.

Một trong những phương pháp đặc trưng của thầy khi dạy sửa chữa là buộc chúng tôi sửa những lỗi trực tiếp trên máy do thầy tự sắp xếp. Thầy và cô Sơn (nhân viên phòng máy) thường thay thế một số linh kiện hỏng vào rồi bắt chúng tôi tìm ra, khắc phục.

Có lần, chúng tôi tìm mãi không ra lỗi và phải nhờ vào tài ăn nói của lớp phó Hải (nay là Trưởng Ban Tuyên huấn - Lữ đoàn Tàu ngầm 189). Không biết Hải nài nỉ thế nào mà cô Sơn đã tiết lộ một chút manh mối, nhờ đó chúng tôi mới qua được bài khảo sát khó nhằn.

Yêu thương, quan tâm chân thành

Gắn bó với thầy Lê Xuân Kính suốt 3 năm học chuyên ngành, chúng tôi luôn nhận được sự yêu thương, quan tâm chân thành. Mỗi lần chúng tôi ghé nhà, vợ chồng thầy đều nhiệt tình giữ lại ăn cơm, hỏi han, dặn dò đủ điều. Có lẽ vì thế mà khoảng cách giữa thầy và học viên gần như không còn.

Một trong những kỷ niệm để lại dấu ấn sâu đậm với chúng tôi là buổi học vào dịp trung thu. Sau thời gian dò mạch đến mờ mắt, thầy lấy chiếc túi vợ gửi, đặt lên bàn. "Lớp trưởng lấy bánh chia cho các bạn ăn đi" - thầy bảo. Cả lớp ồ lên thích thú. Thầy ra hiệu trật tự, nói nhỏ để không ảnh hưởng lớp học bên cạnh.

Những chiếc bánh vừa mở ra, mắt chúng tôi như sáng lên. Chúng tôi chia nhau ăn ngon lành, một phần vì bánh ngon, phần nữa vì đó là lần hiếm hoi thầy cho lớp giải lao sớm trước 10 phút. Khánh (nay là Trưởng ngành 47, Tàu ngầm 183 TP HCM) thích thú: "Hôm nào cũng được như thế này thì tốt quá". Đứng cạnh đó, cô Sơn mỉm cười nhắc khẽ: "Ăn nhanh còn xuống lớp, về ôn cho kỹ, mai thầy kiểm tra tiếp đấy".

Suốt 3 năm học, cứ mỗi dịp trung thu đến, chúng tôi lại háo hức mong chờ những hộp bánh do vợ thầy chuẩn bị. Cảm giác ấy thật khó gọi tên, chỉ biết rằng nó giống như hồi nhỏ chúng tôi ngóng mẹ đi chợ về, chẳng phải vì quà to hay nhỏ, mà vì trong đó có cả sự quan tâm, chở che và yêu thương lặng lẽ…

Chúng tôi chia tay thầy trong đêm khuya, khi biển Vũng Tàu đã lên đèn. Lời dặn dò trước lúc thầy bước vào xe vẫn theo tôi đến tận bây giờ: "Cứ giữ vững đam mê, rồi mọi thứ cũng sẽ ổn. Có gì chưa hiểu, cứ gọi điện cho thầy." Khi công việc căng thẳng, lúc máy móc bất chợt giở chứng, câu nói ấy lại ùa về, lặng lẽ mà vững vàng.

Tôi nhớ mãi mái tóc bạc của thầy, nhớ giọng nói nghiêm mà ấm, nhớ những buổi học đầy áp lực trên giảng đường và nhớ chiếc bánh trung thu yêu thương. Những điều tưởng như rất đỗi bình dị ấy đã trở thành hành trang theo tôi suốt chặng đường quân ngũ, nhắc nhớ về một người thầy, người đồng đội tận tâm và một thời học tập không thể nào quên. 

Chỉ bảo nhẹ nhàng, cặn kẽ

Sau này khi ra trường, trực tiếp làm việc với các thiết bị, tôi mới thấy hết ý nghĩa những tình huống bất ngờ mà thầy Lê Xuân Kính đã tạo ra trước đó. Nhờ vậy, tôi hiểu nguyên tắc nhìn, nghe, ngửi, chạm, đọc... rồi khoanh vùng lỗi một cách nhanh nhất.

Thầy từng bảo: "Làm sô-na mà không hiểu tín hiệu, thủy âm thì coi như mù." Mỗi học viên phải tự tay đo tín hiệu đầu vào, độ khuếch đại, nhiễu, độ lệch tần số với chuẩn; chỉ cần sai vài mili-vol, thầy thấy ngay.

Sau này, khi gặp việc gì khó, chúng tôi lại gọi điện hỏi thầy. Có hôm đã rất khuya mà thầy vẫn thức cùng chúng tôi, nghe từng chi tiết, rồi chỉ bảo nhẹ nhàng, cặn kẽ như thuở còn đứng lớp.