TPHCM: Căng thẳng phiên ly hôn 1.200 tỉ đồng của đại gia nha khoa tiếng tăm
(NLĐO) - Những câu đáp trả của đại gia nha khoa tại phiên tòa đẩy kịch tính vụ kiện ly hôn kéo dài 10 năm lên đỉnh điểm.
Tối 12-5, TAND Khu vực 5 - TPHCM thông báo sẽ nghị án dài ngày đối với phiên xét xử sơ thẩm vụ án ly hôn và tranh chấp tài sản giữa ông H.N.T.T (nguyên đơn) và bà N.T.N.A (bị đơn; cùng ngụ TPHCM).
Theo hồ sơ, vào tháng 3-2015, ông T. nộp đơn xin ly hôn, tự nguyện nộp bản chính giấy chứng nhận kết hôn và thừa nhận hai người là vợ chồng hợp pháp, có một con chung sinh năm 2002. Thời điểm này, ông T. cho rằng tài sản chung hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Tuy nhiên, đến tháng 6-2024, ông T. bất ngờ thay đổi yêu cầu khởi kiện thành "hủy việc kết hôn trái pháp luật" và đề nghị chỉ chia cho bà A. 20% giá trị tài sản tranh chấp. Nguyên đơn lập luận rằng việc kết hôn tại UBND phường Lộc Phát (TP Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng cũ) năm 2003 là "trái luật" vì ông không trực tiếp có mặt làm thủ tục. Dù thừa nhận chữ ký trên bản chính giấy chứng nhận kết hôn là của mình, ông T. vẫn phủ nhận tính hợp pháp của quan hệ hôn nhân này.
"Quên" hình cưới của mình
Tại phiên toà ngày 12-5, để minh chứng cho cuộc hôn nhân kéo dài hơn 20 năm, người đại diện pháp luật của bà A. đưa ra một bức ảnh cưới được mô tả là có sự hiện diện của linh mục (cha xứ), các thành viên trong ban hành giáo và ông T., bà A. để yêu cầu xác nhận, ông này đã trả lời: "Tôi không nhớ bức ảnh này, tôi không rõ bức ảnh này".
Người đại diện của bà A. đã cho rằng việc hai người tổ chức nghi thức hôn phối tại nhà thờ ở TP Bảo Lộc theo nghi thức Công giáo là chuyện công khai đến mức "cả huyện ai cũng biết". Phía bị đơn dẫn chứng thêm rằng cuộc hôn nhân này không chỉ có hình ảnh mà còn có chứng cứ vật chất là sổ hôn phối tại giáo xứ thánh mẫu với đầy đủ chữ ký của cô dâu, chú rể và người làm chứng từ năm 2002.
Tiếp đó, người đại diện của bà A. tiếp tục đặt hàng loạt câu hỏi nhằm xác nhận việc hai người có chung sống thực tế và thực hiện các giao dịch dân sự với tư cách vợ chồng trong suốt nhiều năm qua hay không, ông T. liên tục sử dụng cụm từ "Tôi từ chối trả lời" hoặc khẳng định "không nhớ" để đáp lại.
Từng nhận con chung
Để yêu cầu huỷ kết hôn, ông T. còn bất ngờ thay đổi sự thừa nhận con chung (người con sinh năm 2002), cho rằng đây là con riêng của bà A. Nguyên đơn cáo buộc bị đơn đã lừa dối ông về việc mang thai con chung để "ép" ông phải làm đám cưới.
Trước lập luận về một kịch bản "dàn dựng để lừa dối tình cảm" từ phía ông T., bà A. phản bác rằng, tại thời điểm hai người mới gắn kết, cả hai đều xuất phát từ hai bàn tay trắng, cùng nhau gây dựng nên sự nghiệp từ con số không, chứ không phải ông đã sở hữu sẵn cơ ngơi đồ sộ hay hệ sinh thái nha khoa nghìn tỉ như hiện nay để bà có thể "lập mưu" chiếm đoạt.
Bà A. nhấn mạnh, cáo buộc "hôn nhân trái pháp luật" của nguyên đơn là một sự sỉ nhục đối với dòng họ của mình.
Dù ông T. khai đã tự thực hiện xét nghiệm ADN từ năm 2015 nhưng phía bị đơn chỉ ra rằng trong suốt quá trình tố tụng kéo dài từ năm 2015 đến 2023, ông vẫn luôn thừa nhận tư cách làm cha và quan hệ hôn nhân tự nguyện. Do đó, bà A. cho rằng việc nguyên đơn đột ngột phủ nhận con chung vào thời điểm này là một động cơ không trong sáng nhằm bác bỏ quan hệ vợ chồng hợp pháp, từ đó né tránh việc phân chia khối tài sản chung khổng lồ ước tính hơn 1.200 tỉ đồng.

HĐXX TAND Khu vực 5 - TPHCM đang nghị án kéo dài đối với phiên xử này
Để chứng minh sự tự nguyện của ông T., bà A. dẫn chứng, vào năm 1999, cô ruột của bà ở Lâm Đồng đã tạo điều kiện cho ông T. nhập hộ khẩu vào nhà để ông có đủ thủ tục làm việc tại một bệnh viện địa phương. Cho đến lễ cưới và nghi thức hôn phối trang trọng tại nhà thờ vào năm 2001 với sự chứng kiến của hai bên gia đình và cộng đoàn.
Người con chung chào đời vào tháng 5-2002 và được làm khai sinh vào tháng 6-2002 với sự đồng ý của ông T. (ông đứng tên cha trong giấy khai sinh). Tuy nhiên, mãi đến ngày 14-5-2003, hai người mới tiến hành đăng ký kết hôn tại UBND phường. Bà A. lập luận rằng khoảng cách thời gian này chính là quãng thời gian ông T. đã xem xét kỹ lưỡng và thực hiện quyền lựa chọn gắn bó với bà cùng đứa trẻ một cách tỉnh táo chứ câu chuyện không phải như ông cáo buộc.
Khối tài sản "khủng"
Theo yêu cầu phản tố chia tài sản chung khi ly hôn, phía bà A. xác định tổng giá trị khối tài sản đang tranh chấp ước tính khoảng hơn 1.200 tỉ đồng. Danh mục tài sản này bao gồm hệ thống 38 chi nhánh nha khoa (được định giá khoảng 120 tỉ đồng) cùng khoản lợi tức kinh doanh mà ông T. đã thu được từ hệ thống này ước tính lên đến 1.000 tỉ đồng.
Ngoài ra, khối tài sản còn bao gồm hàng loạt bất động sản đắc địa tại TPHCM, Nha Trang, Phan Thiết... các tài khoản ngân hàng. Bà A. đề nghị tòa án phân chia theo tỷ lệ 50%.
Ngược lại, phía ông T. phủ nhận yêu cầu này, cho rằng phần lớn tài sản đứng tên cá nhân ông là tài sản riêng hình thành từ thu nhập chuyên môn bác sĩ và bà A. không có tư cách cổ đông trong hệ thống nha khoa. Ông T. chỉ đồng ý hỗ trợ bà A. 20% giá trị đối với những tài sản đứng tên chung vì lý do "nhân văn".
Nghi vấn vi phạm chế độ một vợ một chồng?
Tại phiên xử, phía bị đơn đã đưa ra những cáo buộc về việc ông T. sử dụng song song hai chứng minh nhân dân/căn cước công dân và vi phạm nghiêm trọng chế độ hôn nhân một vợ một chồng.
Theo đó, hồ sơ trích lục cho thấy ông T. đã đăng ký kết hôn với bà N.T.T.T vào năm 2004 tại TPHCM và ly hôn vào giữa năm 2005. Phía bị đơn cáo buộc ông T. chung sống như vợ chồng và có 4 người con riêng với bà Đ.T.T.T (nhân viên cũ) được sinh ra vào các năm 2011, 2015, 2016 và 2021.
Tại tòa, trước chất vấn về sự tồn tại của 4 người con này, ông T. không phủ nhận mà chỉ né tránh bằng cách yêu cầu luật sư đọc trong hồ sơ. Để làm rõ, phía bà A. đã đề nghị tạm hoãn phiên toà để tòa án thực hiện nhiều biện pháp thu thập chứng cứ, đối soát nhân thân, mời những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến tòa đối chất.
Theo lập luận của bà A., việc ông T. bất ngờ yêu cầu "hủy kết hôn trái pháp luật" là nhằm né tránh trách nhiệm hình sự đối với hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng, đồng thời là cái cớ để hạ tỷ lệ phân chia cho người vợ xuống còn 20% thay vì chia đôi khối tài sản đã cùng nhau gây dựng suốt 20 năm.