Tranh luận quanh việc áp ngưỡng nợ thuế để cấm xuất cảnh

Dự thảo quy định cá nhân, tổ chức nợ thuế từ 1 triệu đồng (đã bỏ địa chỉ đăng ký) sẽ bị cấm xuất cảnh đang nhận được sự quan tâm từ dư luận

Từ việc nợ thuế vài chục ngàn đồng cũng bị cấm xuất cảnh theo luật hiện hành đang gây lo lắng cho nhiều cá nhân, hộ kinh doanh, Bộ Tài chính đang dự thảo nâng ngưỡng cấm lên từ 1 triệu đồng. Tuy nhiên, việc áp ngưỡng này cũng đặt ra nhiều vấn đề cần xử lý để bảo đảm tính công bằng và hiệu quả trong thu hồi nợ thuế.

Không thể chỉ nhìn vào con số

Khoảng 10 năm trước, chị Lê Thúy Nga (TP HCM) mở quán cà phê kinh doanh tại khu vực Thủ Đức. Khi việc làm ăn không thuận lợi, chị dọn đi và trả lại mặt bằng cho chủ nhà, nhưng lại thiếu sót khi không thực hiện thủ tục thông báo ngừng hoạt động với cơ quan thuế sở tại.

Mới đây, chị Nga bất ngờ nhận được thông báo từ cơ quan thuế, cho biết chị vẫn còn nợ thuế và tiền phạt chậm nộp khoảng 50 triệu đồng. Thông báo nêu rõ nếu sau 30 ngày kể từ ngày phát hành thông báo mà không nộp đủ khoản nợ vào ngân sách nhà nước, chị sẽ bị áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh.

Lo ngại ảnh hưởng đến kế hoạch công việc và nhu cầu ra nước ngoài, chị Nga đã liên hệ với cơ quan thuế để làm rõ thông tin và nộp đủ số tiền 50 triệu đồng.

Tuy nhiên, chị Nga cho rằng việc nợ thuế bị tạm hoãn xuất cảnh vẫn còn bất cập và nếu chốt ngưỡng 1 triệu đồng sẽ tạo ra kẽ hở. "Nếu pháp luật có quy định mới là chỉ áp dụng cấm xuất cảnh từ mức nợ 1 triệu đồng trở lên thì sẽ thiếu công bằng giữa các đối tượng" - chị Nga nói.

Gần đây, cơ quan thuế tại TP HCM liên tục công bố hàng ngàn thông báo cảnh báo tạm hoãn xuất cảnh. Đáng chú ý, trong số các trường hợp bị cưỡng chế, không ít người nộp thuế có khoản nợ rất nhỏ, chỉ từ vài chục ngàn đồng đến dưới 1 triệu đồng. Nhiều trường hợp là cá nhân hoặc đại diện doanh nghiệp, hộ kinh doanh đã bỏ địa chỉ đăng ký, ngừng hoạt động từ lâu và chưa hoàn tất thủ tục chấm dứt mã số thuế. 

Từ thực tế này, dư luận đặt nhiều câu hỏi về tính hợp lý của ngưỡng nợ thuế 1 triệu đồng đang đề xuất. Nhiều ý kiến lo ngại nếu quy định mới chỉ áp dụng cưỡng chế từ mức nợ 1 triệu đồng trở lên thì những khoản nợ nhỏ dưới ngưỡng này sẽ rất khó thu hồi. Khi nợ kéo dài quá 10 năm và áp dụng đủ biện pháp cưỡng chế không thành, khoản nợ có thể được xem xét xóa theo luật. Điều này gây nguy cơ thất thu ngân sách nhà nước, đồng thời thiếu công bằng với người nộp thuế đầy đủ, đúng hạn.

Để bảo đảm công bằng và nghiêm minh, ông Nguyễn Ngọc Tịnh, Phó Chủ tịch Hội Tư vấn và Đại lý thuế TP HCM, nêu quan điểm: Nhà nước nên duy trì chính sách cấm xuất cảnh với bất kỳ khoản nợ nào, dù chỉ vài chục ngàn đồng. Việc này không chỉ thúc đẩy người nộp thuế chủ động hoàn thành nghĩa vụ mà còn tạo bình đẳng giữa các đối tượng, kể cả người Việt xuất cảnh định cư ở nước ngoài và người nước ngoài rời Việt Nam.

Tranh luận về ngưỡng nợ thuế cấm xuất cảnh: Công bằng hay bất cập năm 2026 - Ảnh 1.

Người nộp thuế giao dịch tại cơ quan thuế ở TP HCM

Hiệu quả quản lý phải đi cùng chi phí hợp lý

Ở góc nhìn khác, luật sư Nguyễn Đức Nghĩa, Giám đốc Công ty Luật TNHH Việt Tín Nghĩa, phân tích việc quy định ngưỡng nợ thuế để cấm xuất cảnh quá thấp đối với cá nhân và tổ chức đã bỏ địa chỉ kinh doanh sẽ khiến cơ quan quản lý thuế tốn kém nhiều thời gian, công sức và chi phí hành chính.

Theo ông Nghĩa, trong nhiều trường hợp, số tiền thuế truy thu được rất nhỏ, thậm chí không đủ bù đắp chi phí theo dõi, gửi thông báo, áp dụng cưỡng chế và xử lý thủ tục. "Có khi chi phí truy thu còn cao hơn cả khoản nợ, trong khi kết quả thu hồi chưa chắc đã thành công" - luật sư Nghĩa phân tích.

Do đó, ông Nghĩa đề xuất nâng ngưỡng nợ thuế, áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với cá nhân, hộ kinh doanh và tổ chức đã bỏ địa chỉ đăng ký kinh doanh lên mức 10 triệu đồng trở lên. Việc điều chỉnh này nhằm giảm thiểu gánh nặng hành chính cho cơ quan thuế, tập trung nguồn lực vào những khoản nợ có giá trị kinh tế đáng kể, đồng thời bảo đảm hiệu quả chi phí - lợi ích trong quá trình cưỡng chế thi hành.

Quan điểm của ông Nghĩa nhận được sự quan tâm từ cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay có hàng trăm ngàn trường hợp nợ thuế nhỏ lẻ, kéo dài nhiều năm và khó thu hồi. Việc cân bằng giữa tính nghiêm minh của pháp luật thuế và hiệu quả quản lý nhà nước đang là vấn đề được nhiều chuyên gia góp ý trong quá trình hoàn thiện nghị định hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế.

Các chuyên gia trong lĩnh vực thuế cho rằng công bằng không đồng nghĩa với việc áp dụng một cơ chế cứng nhắc cho mọi trường hợp. Trên thực tế, nhiều khoản nợ phát sinh do sai sót thủ tục, thiếu thông tin hoặc do người nộp thuế đã ngừng hoạt động từ lâu. Nếu những trường hợp này vẫn bị áp dụng chế tài mạnh như cấm xuất cảnh, có thể dẫn đến hệ quả không tương xứng với mức độ vi phạm.

Vấn đề cốt lõi là cần phân loại rõ: đâu là hành vi chây ì, cố tình trốn tránh nghĩa vụ; đâu là sai sót hành chính hoặc phát sinh ngoài ý muốn... Khi chưa có sự phân định này, việc áp dụng đồng loạt dễ tạo cảm giác "đánh đồng", từ đó làm giảm hiệu quả và tính hợp lý của chính sách. 

Theo số liệu từ Bộ Tài chính, hiện trên cả nước có hơn 960.000 người nộp thuế (bao gồm doanh nghiệp và hộ kinh doanh) không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh nhưng vẫn còn nợ thuế với tổng số tiền hơn 32.100 tỉ đồng. Trong đó, hơn 496.000 người nộp thuế có mức nợ dưới 1 triệu đồng, chiếm tỉ lệ 51,5% tổng số trường hợp đang còn nợ thuế.