Khơi thông xuất khẩu lao động cho ĐBSCL

Nếu không tổ chức tốt hoạt động xuất khẩu lao động, dòng di cư tự phát ở đồng bằng sông Cửu Long sẽ còn gia tăng

Báo cáo "Ở lại hay di cư" mới đây của World Bank cho thấy trong 1 thập kỷ, gần 1,7 triệu người đã rời ĐBSCL. Khảo sát ghi nhận khoảng 14% hộ gia đình có ít nhất 1 người di cư, chủ yếu đến các đô thị lớn trong nước để mưu sinh. Đó là dòng dịch chuyển tự phát. Trong khi kênh đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng - vốn được xem là "dịch chuyển có tổ chức", có bảo hộ pháp lý và thu nhập cao - lại chưa tương xứng với tiềm năng của vùng.

Nhận diện khó khăn, bất cập

Năm 2026, Cục Quản lý lao động ngoài nước (Dolab) - Bộ Nội vụ đặt mục tiêu đưa khoảng 112.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài. Định hướng là giữ vững thị trường truyền thống như Đài Loan (Trung Quốc), Nhật Bản, Hàn Quốc; mở rộng sang Romania, Hungary, Ba Lan, Phần Lan, Đức, Áo, Bulgaria; đồng thời thúc đẩy các thị trường Mỹ, Canada, Úc, New Zealand ở ngành nghề có kỹ năng.

Nếu nhìn vào ĐBSCL, câu hỏi đặt ra là: Vì sao vùng có lực lượng lao động dồi dào, thu nhập bình quân còn thấp, nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài lớn… lại chưa trở thành "điểm sáng" về xuất khẩu lao động (XKLĐ)?

Khơi thông xuất khẩu lao động cho ĐBSCL - Ảnh 1.

Thực tế cho thấy nhu cầu không hề thiếu. Chương trình lao động thời vụ tại Hàn Quốc theo Nghị quyết 13/NQ-CP triển khai từ năm 2018 là ví dụ rõ nhất. Đến cuối tháng 11-2025, 16 địa phương đã đưa hơn 10.000 lao động sang làm việc. Riêng Đồng Tháp có 1.467 người, Cần Thơ 846 người. Sau một vụ 8 tháng, người lao động (NLĐ) có thể tích lũy 80-100 triệu đồng - khoản tiền có ý nghĩa lớn với hộ nông dân.

Nhưng đi cùng cơ hội là bất cập. Có địa phương tuyển chọn chưa đúng đối tượng, đưa cả người không có kinh nghiệm nông nghiệp đi làm nông nghiệp. Có nơi thu chi phí cao, thậm chí hợp đồng 8 tháng nhưng NLĐ phải nộp trên 65 triệu đồng. Gánh nặng tài chính khiến một số người tìm cách ở lại trái phép để "gỡ vốn", làm ảnh hưởng uy tín chung.

Quyền Cục trưởng Dolab Vũ Trường Giang thẳng thắn thừa nhận vẫn còn tình trạng doanh nghiệp (DN) thu phí cao, tuyển chọn thiếu minh bạch; một số quy định chậm điều chỉnh, chưa theo kịp thực tiễn. Chạy theo chỉ tiêu mà buông lỏng kỷ cương, cái giá phải trả không chỉ là vài trường hợp vi phạm hợp đồng, mà là nguy cơ bị siết thị trường, mất cơ hội cho hàng ngàn lao động khác.

Với ĐBSCL, khó khăn còn nằm ở khâu tiếp cận. Trước đây, nhiều chương trình đào tạo, tuyển chọn tập trung tại Hà Nội. Lao động miền Tây muốn tham gia phải tốn thêm chi phí đi lại, ăn ở, chờ đợi. Một rào cản âm thầm nhưng đủ để làm nản lòng không ít người.

Biến thách thức thành cơ hội

Định hướng của Bộ Nội vụ là chuyển mạnh sang thị trường thu nhập cao, yêu cầu kỹ năng, ổn định dài hạn. Với ĐBSCL, vấn đề không chỉ là tăng số lượng người đi, mà phải tổ chức lại toàn bộ chuỗi: tuyên truyền - tuyển chọn - đào tạo - quản lý sau xuất cảnh.

Theo ông Trần Kinh Lợi, Giám đốc Tuyển sinh của Công ty CP Đầu tư Thương mại Quốc tế Sài Gòn Thiên Vương, trước hết phải siết chặt kỷ cương. Tuyển đúng người, đúng nghề. Lao động nông nghiệp thực thụ mới tham gia chương trình thời vụ nông nghiệp. Công khai chi phí, loại bỏ trung gian trái phép. Chính quyền địa phương không thể "khoán trắng" cho DN hay tổ chức bên ngoài.

Minh bạch chi phí là điều kiện tiên quyết. Khi NLĐ phải vay mượn hàng chục triệu đồng, áp lực trả nợ sẽ đẩy họ vào rủi ro vi phạm hợp đồng. Ngược lại, nếu chi phí được kiểm soát, hỗ trợ tín dụng rõ ràng, NLĐ sẽ yên tâm làm việc và trở về đúng hạn.

Kế đến là phải giảm rào cản tiếp cận. Việc thống nhất mở cơ sở đào tạo tại Cần Thơ cho các chương trình phi lợi nhuận, trước mắt là thực tập sinh kỹ thuật IM Japan, là bước đi đáng ghi nhận. Đào tạo tại chỗ giúp NLĐ miền Tây tiết kiệm chi phí, được tư vấn trực tiếp, hạn chế thông tin sai lệch.

Các chương trình phi lợi nhuận có nhiều ưu điểm: không thu phí dịch vụ; hỗ trợ phần lớn chi phí đào tạo; hỗ trợ vé máy bay; có khoản hỗ trợ tài chính khi hoàn thành về nước. "Nếu truyền thông đúng mức, đây là "cửa sáng" cho hộ nghèo, cận nghèo, thanh niên nông thôn, quân nhân xuất ngũ ở ĐBSCL" - ông Lợi nhấn mạnh.

Theo ông Nguyễn Như Tuấn, Phó trưởng Phòng Hàn Quốc - Tây Á - châu Phi (Dolab), XKLĐ phải được đặt trong chiến lược phát triển vùng. ĐBSCL đang tái cấu trúc nông nghiệp theo hướng công nghệ cao, thích ứng biến đổi khí hậu. Vùng cần những người nông dân biết cơ giới hóa, biết quản trị chuỗi giá trị, biết áp dụng công nghệ.

Những lao động từng làm việc tại Hàn Quốc, Nhật Bản, châu Âu - nếu được định hướng tốt - họ trở về sẽ mang theo vốn tích lũy, kỹ năng, tác phong công nghiệp và cách làm mới. Nếu chỉ xem XKLĐ là giải pháp "giảm áp" thất nghiệp, ĐBSCL sẽ tiếp tục mất người. Nhưng nếu coi đó là kênh tích lũy vốn và chuyển giao kỹ năng có tổ chức, vùng có thể biến thách thức thành cơ hội.

Đưa lao động ĐBSCL ra thế giới không thể chỉ dừng ở con số, điều cần hơn là chất lượng, kỷ cương và một chiến lược gắn kết chặt chẽ giữa "đi" và "trở về". Khi đó, XKLĐ mới thực sự trở thành một trụ cột sinh kế bền vững cho ĐBSCL.