Đạo của thầy rắn hổ

Tin mới

12/02/2013 08:09

“Kiến nghĩa bất vi vô dõng giã Lâm nguy bất cứu mạc anh hùng”. Thấy việc nghĩa mà không làm, thấy việc nguy cấp mà không ra tay cứu giúp thì không phải là anh hùng. Đó cũng là cái chữ “đạo” của người thầy thuốc trị rắn độc, còn là lời thề trước tổ nghiệp khi nhập môn thọ giáo. Ông Ba Kình nói vậy.

Thầy Ba Kình

Đời ông cố của Ba Kình có gốc gác ở Cái Tàu, đến Rạch Trại thuộc xã Khánh Lâm (nay là xã Khánh Tiến, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau) phá rừng trồng lúa lúc ông Ba Kình chưa sinh ra. Năm 1998, khi tôi gặp ông thì ông đã 64 tuổi. Xin nói về địa danh Rạch Trại. Thuở trước, tại con rạch này, dân khai phá cùng nhau cất một cái trại lớn để người đi rừng có chỗ trú mưa nắng, sau này thành tên.

Hồi đó ở vùng này còn nhiều cọp, cá sấu, còn rắn thì nhiều không kể xiết. Độc nhất là rắn hổ. Có rất nhiều loại: hổ mây, hổ đước, hổ đất, hổ đòn cân, hổ điểm, hổ lông, hổ mủ… Rắn hổ mây có hai loại: hổ mây vàng và hổ mây mốc. Hổ mây vàng thường sống ở trên cây, vảy màu vàng điểm nhiều đốm trắng tựa bông trái mây dóc, ngay đỉnh đầu có hình mặt trăng. Hổ mây mốc thường sống ở dưới đất, vảy màu xám. Đây là loại hung dữ nhất, to lớn nhất và độc nhất trong các loại rắn hổ. Người nào vô phước bị nó đớp phải thì chỉ có thầy rắn hổ vào hàng sư tổ mới có thể “đem hồn về nhập xác”!

Vùng U Minh ngày nay vẫn còn truyền tụng nhiều câu chuyện về những cặp rắn hổ mây đã thành tinh. Rằng có những con mình dài cỡ mười mét (?) móc đầu và đuôi vào thân hai cây tràm… tát đìa bắt cá. Chuyện này không ai ký tên! (Theo tài liệu về rắn của Harry Greene - giáo sư sinh vật người Mỹ, Trường Đại học California, trên thế giới chỉ có loài trăn Anaconda Nam Mỹ là loài lớn nhất nhưng chỉ dài không đến bảy mét).

Ông Ba Kình kể: Hồi còn nhỏ, một hôm thấy có chiếc xuồng từ Khánh Hội chở một người đi phát cỏ bị rắn cắn tìm thầy rắn là ông Tư Chức. Không may ông Tư lại đi vắng. Chập sau, chiếc xuồng bơi ngược trở về thì người ấy đã chết. Thấy người thân nạn nhân khóc than thảm thiết, ông mủi lòng khóc theo. Từ đó ông nuôi ý nguyện sẽ đi tầm sư học đạo. Người thầy đầu tiên của ông là ông Hai Mùa, học trò ruột của ông Năm Ngọc - một ông thầy của các thầy ở vùng U Minh. Học đến khi ông Hai Mùa đã “hết sách”, ông tìm đến ông Năm Ngọc thọ giáo.

Gần 40 năm, ông Ba Kình đã cứu sống hơn 200 nạn nhân bị rắn độc cắn, trong đó có nhiều trường hợp chết lâm sàng. “Mấy tình huống mà những thầy rắn non tay nghề phải chịu thua là gặp phải thủ phạm “có thù oán” với nạn nhân (chẳng hạn phát cỏ lỡ tay chém nhằm rắn). Lúc cắn được, con rắn ngậm luôn không nhả. Hoặc nạn nhân gặp phải rắn hổ đòn cân mặt võng, rất độc vì lai với các loại rắn hổ khác”.

Khoảng năm 1973, ở Hàng Gòn (xã Khánh Hội) có người đàn ông đi phát cỏ đạp nhằm con rắn hổ, bị nó quay đầu trở lại đớp ngay ngón chân cái rồi ngậm dính. Anh phải cầm cù nèo quèo nó sứt ra rồi té xuống nước. Trong vòng một ngày, gia đình lần lượt rước về bốn ông thầy, đều trị không hết. Có ông còn đoan chắc “bệnh này đến lúc mặt trời lặn sẽ chết”! Khi ông Ba Kình đến nơi thì đã 8 giờ đêm.
 
Người nhà, hàng xóm đứng chờ đặc cả dưới bến. Bệnh nhân đã hết cục cựa, mi mắt khép cứng. Tốc mền bệnh nhân ra xem mạch, Ba Kình báo cho mọi người là chưa chết. Sau khi xem qua các thứ thuốc của mấy ông thầy trước, Ba Kình cắt đặt cánh đàn ông thì đi vào rừng tìm thuốc cho bệnh nhân uống, giới nữ tìm thuốc đắp vào vết thương.
 
Sau khi cho thuốc vào ống cao su, cạy răng bệnh nhân đổ vào, đến 11 giờ đêm ông Ba Kình thăm thử thấy gân máu đỏ ở mắt đã lặn từ từ, dấu hiệu có thuyên giảm. Đến khoảng 1 giờ sáng, bệnh nhân mở mắt được. 4 giờ, ư e được vài tiếng rồi trở mình. 6 giờ nói chuyện được nhưng hơi ngọng. 7 giờ, người bệnh tự ngồi dậy đòi tiểu tiện…
Khoảng năm 1978, một bà ở xã Khánh Hòa trong lúc xách ấm nước đang sôi thì một con rắn từ trong cựa củi dưới bếp phóng ra cắn ngay ống quyển, ngậm luôn. Lúc Ba Kình đến nơi thì thấy gia đình đã dựng rạp, sắp sửa đi rinh hàng (hòm) về. Người bệnh nằm xuội lơ, cà hước, mắt trợn trắng - dấu hiệu sắp tắt thở, con cháu khóc dậy nhà. Sau khi được đổ thuốc, người bệnh lần lần hồi tỉnh.

Thầy Năm Ngọc

“Qua năm nay (1998) đã bước qua tuổi 72. Trước sống ở huyện Cái Nước (Cà Mau), gia đình qua dời về xã Khánh Tiến (huyện U Minh) này đã hai mươi hai năm nay. Hồi còn công tác ở An ninh Quân khu 9, qua được ông thầy rắn tên Ba Cưu truyền dạy cho 14 vị thuốc, nay chế thêm nhiều vị khác tổng cộng là 72 vị…”. Ông Năm Ngọc tự giới thiệu mình như vậy.
 
Ông không nhớ hết đến nay đã cứu sống được bao nhiêu nạn nhân bị rắn độc cắn, “năm trăm, bảy trăm gì đó”. Trong đó, số con bệnh mà ông cướp lại từ tay thần chết ngót 20 người. “Nếu đã đứt hơi nhưng người còn nóng, lâu lâu thấy tim đập một cái là qua cứu được” - ông Năm Ngọc nói.

Ông nhớ lại cách đây có đến 30 năm, anh Tư Tấn bữa đó đi thăm ruộng, bị rắn hổ đòn cân mặt võng cắn ngay phía trên bắp đùi. Lần lượt nhiều thầy trong vùng thay nhau trị suốt hai, ba ngày nhưng rồi đều bó tay. Mỗi lần kéo đờm, con bệnh nằm trên bộ ván ngựa bật người, nhảy dựng lên trần nhà. Sau khi xem vết cắn, bắt mạch, ông Năm Ngọc bảo: “Đừng dựng rạp, đóng hòm làm chi”. Tư Tấn sau đó đã có cháu nội, ngoại lủ khủ.

Một lần khác, lúc vợ chồng ông chèo xuồng đi bán mắm trên sông Biện Nhị, gặp chiếc xuồng bốn chèo mũi, lái rẽ nước ồ ồ, bảo đi tìm ông thầy rắn Năm Ngọc. Ông vội la lớn: “Năm Ngọc đây nè, bà con ơi! Quay lại đi!”. Người bị rắn cắn đó ở kinh Khánh Lâm, sau này thỉnh thoảng bơi xuồng đến thăm ông, lúc đem theo cặp gà giò, lúc thì một quày chuối xiêm chín bói.

Năm 1978, ông được một gia đình ở Lung Vườn, xã Khánh Tiến rước về trị cho đứa con gái mới 13 tuổi bị rắn đòn cân mặt võng 24 khoang bò vào cắn ngay “trái chanh” của bàn tay. Đây là chỗ huyệt (nghịch) nhất của con người. Lúc ông đến thì toàn thân cô gái đã lạnh, chỉ ở vùng ngực còn nóng, tim đập rất yếu. Gia đình đã che rạp, đóng quách. Sau khi cô gái được cứu sống, cha mẹ cô đền ơn bằng cách hứa gả cho ông. “Nhưng sau đó do nhiều trắc trở nên duyên nợ không thành” - ông Năm xa xôi nhớ lại.

“Thuốc của qua dùng cây lá ít nhưng ngải nhiều”. Ông cho biết vậy thôi, còn việc dùng tay vuốt ngực bệnh nhân cho hạ đờm, ông không nói ra. Thế nhưng có rất nhiều người trong vùng - kể cả ông Ba Kình, ông Sáu Anh (lúc đó là chủ tịch Hội Y học dân tộc huyện U Minh) đều khẳng định nhiều lần chứng kiến ông Năm Ngọc trị bằng cách dùng tay vuốt: “Mỗi lần như vậy, nghe đờm kéo xuống cái rột”.

Bí mật hay huyền thoại?

Chung quanh các ông thầy rắn hổ đều chứa đựng những bí mật mang màu sắc huyền thoại. “Nhiều người nói rằng hầu hết đều sử dụng bùa ngải, cụ thể là bùa Lỗ Ban?”. Ông Ba Kình khá trầm ngâm sau câu hỏi đó của tôi: “Theo tín ngưỡng dân gian: Đất có thổ công, sông có hà bá. Những người thầy rắn đều có thờ tổ, hiểu là phần tâm linh của nghề nghiệp - nghề nào tổ nấy. Tổ nghiệp của nghề rắn là bà Mẹ Mọi. Tương truyền bà là mẹ của 12 dân tộc (thập nhị), hầu hết là thiểu số. Mười hai dân tộc là học trò của bà Mẹ Sóc - chánh tổ Lỗ Ban của bà Mẹ Mọi”.
 
Ông Ba Kình khẳng định tất cả thầy thuốc rắn ngoài sử dụng cây cỏ trong vùng thì đều có sử dụng ngải nhiều loại. Nhiều ông thầy còn dùng sừng con dinh đặt vào vết thương để hút nọc rắn độc. ông tiết lộ cho tôi một toa thuốc (tạm gọi là thuốc dụ rắn) gồm năm vị, trong đó có thăng ma, mùi rất hôi tanh. Thuốc tán mịn, trộn với một ít dầu dừa, sau đó tẩm vào cây xa quất hoặc thoa vào lòng bàn tay dùng ngoáy hoặc vỗ vào miệng hang, rắn lập tức phải bò ra, lờ đờ như kẻ mộng du.
 
Toa thuốc này liệu có mối liên hệ nào với cách “vuốt” của thầy Năm Ngọc hay không? Đó là một “bí mật” riêng của thầy Năm Ngọc. Chính mắt ông Ba Kình còn chứng kiến sư phụ của cha ông dùng mũi gậy khoanh một vòng tròn dưới đất, xong bỏ con rắn hổ vào trong vòng tròn đó suốt gần một giờ nhưng nó vẫn không dám bò ra. Hễ bò đến lằn ranh vô hình đó thì rắn vội vàng rụt cổ lại!

Còn chuyện dùng bùa, ông Ba Kình giải thích: có thể do nhìn thấy những cách trị “khó hiểu” như trên, cộng thêm cách hiểu nôm na của từ “bùa ngải” (nếu dụng ngải ắt có dụng bùa?), hoặc chữ Lỗ Ban thì đi đôi với “bùa Lỗ Ban” nên nhiều người ngộ nhận rồi đồn thổi mà ra.

“Nếu một người thầy rắn thiệt thọ, có y đức thì không được đòi hỏi gia chủ sau khi ra tay cứu nạn, nếu họ đền ơn thì nhận, mà chỉ là con gà để cúng tổ hoặc cây trái, khi thì bó rau, con cá… Nghề này là nghề cứu nhân độ thế” - ông Ba Kình tâm sự. “Khi nhập môn thọ giáo, người thầy rắn tương lai phải quỳ lạy, thề trước bàn thờ tổ: Thứ nhất, gặp người bị nạn phải ra tay cứu giúp, cho dù người đó trước đây có hiềm khích, thù oán với mình. Thứ hai, không màng đến danh lợi và thứ ba là không làm những chuyện xằng bậy, hoen ố như dâm ô, trộm cắp…”.

Trong chuyến đi ấy, tôi đã gặp gỡ, trò chuyện với ít nhất bảy ông thầy rắn vào hạng giỏi nhất ở vùng U Minh. Lạ một điều là hầu như ông thầy nào cũng không truyền nghề lại cho con cháu. Hỏi thì được trả lời “rủi lớp con cháu có đứa vì danh lợi mà làm những việc thất đức thì trước tiên là nghiệp tổ rồi đến dòng họ sẽ bị hoen ố, thanh danh lụn bại”. Những người tôi đã gặp gỡ đó, “cọp chết để da, người ta chết để tiếng”.

PHAN TRƯỜNG GIANG (Pháp Luật)
Bình luận

Đăng nhập với tài khoản:

Đăng nhập để ý kiến của bạn xuất bản nhanh hơn
 
 
Hoặc nhập thông tin của bạn

Mới nhất Hay nhất