Dân số và bài toán nguồn nhân lực quốc gia (*): Dân số bền vững là bài toán tổng thể

Người trẻ không quay lưng với việc sinh con, họ chỉ không dám sinh khi chưa đủ điều kiện.

Muốn thay đổi điều đó, chính sách phải đi vào những vấn đề cốt lõi của đời sống.

Sinh con không còn là chuyện riêng của mỗi cá nhân mà đã trở thành câu chuyện của quốc gia. Khi mức sinh giảm sâu và kéo dài, bài toán dân số không chỉ là số lượng mà là chất lượng nguồn nhân lực, cấu trúc xã hội và khả năng duy trì tăng trưởng. Muốn giải bài toán này, không thể chỉ dừng ở tuyên truyền, cần những thay đổi thực chất trong chính sách và điều kiện sống.

Làm rõ các nguyên nhân

Từ nghiên cứu trong nhiều năm qua, GS-TS Nguyễn Thiện Nhân chỉ ra 5 nguyên nhân gốc rễ.

Thứ nhất, lãnh đạo các nước, các chủ doanh nghiệp không coi tái tạo được con người, tái tạo được gia đình là tiền đề tiên quyết để đất nước phát triển bền vững, dân tộc trường tồn.

Thứ hai, lãnh đạo đất nước né tránh đề cập hậu quả lâu dài của mức sinh thấp dưới mức sinh thay thế, né tránh trách nhiệm của Chính phủ và các doanh nghiệp đối với tình trạng này.

Thứ ba, việc Chính phủ chỉ quy định lương tối thiểu mà không quy định lương đủ sống tối thiểu cho gia đình 4 người, tất yếu dẫn đến hậu quả là một bộ phận người lao động khi kết hôn (khoảng 35%-45%) không đủ thu nhập để duy trì một gia đình 4 người và cho các con ăn học đến tuổi trưởng thành.

Thứ tư, tất cả các nước thu nhập cao đã nửa thế kỷ nay phổ biến quan điểm là việc kết hôn và sinh con là quyền tự do cá nhân, chính phủ không được can thiệp, trong khi các chính phủ đều không nói rõ hậu quả của tỉ suất sinh thấp.

Thứ năm, các chương trình hỗ trợ kết hôn và khuyến khích sinh con của các chính phủ không hiệu quả dù đã chi hàng chục tỉ USD mỗi năm vì không đề cập đủ sâu sắc và giải pháp không đủ mạnh để giải quyết các vấn đề cốt lõi, như: thu nhập, giáo dục, nhà ở, bất bình đẳng giới, điều kiện làm việc khi phụ nữ có con, chi phí điều trị vô sinh, môi trường xã hội...

Dân số và bài toán nguồn nhân lực quốc gia (*): Dân số bền vững là bài toán tổng thể - Ảnh 1.

Việc sinh và nuôi dạy một đứa trẻ tại đô thị lớn như TP HCM đòi hỏi chi phí rất cao. Ảnh: HOÀNG TRIỀU

Tại TP HCM, mức sinh thấp không còn là hiện tượng mới. Năm 2025, tổng tỉ suất sinh của thành phố chỉ còn khoảng 1,51 con/phụ nữ, thuộc nhóm thấp nhất cả nước. ThS Phạm Chánh Trung, Chi cục trưởng Chi cục Dân số TP HCM, cho rằng đây là kết quả của nhiều yếu tố cộng hưởng.

Theo ông, trước hết là áp lực kinh tế và chi phí sinh hoạt. Việc sinh và nuôi dạy một đứa trẻ tại đô thị lớn như TP HCM đòi hỏi chi phí rất cao, từ học phí, y tế đến các nhu cầu phát triển toàn diện. Vì vậy, nhiều cặp vợ chồng trẻ buộc phải trì hoãn sinh con để bảo đảm điều kiện tài chính. Một nguyên nhân khác là xu hướng kết hôn muộn. Năm 2025, độ tuổi kết hôn trung bình lần đầu tại TP HCM đã lên tới 30 tuổi. Khi lập gia đình muộn, các cặp đôi thường có xu hướng sinh ít con hơn. Bên cạnh đó là áp lực công việc và thời gian. Nhịp sống công nghiệp khiến việc cân bằng giữa công việc và gia đình trở nên khó khăn, đặc biệt với phụ nữ.

"Việc chăm sóc con cái vẫn chủ yếu đặt lên vai người mẹ, trong khi họ không nhận được sự chia sẻ đầy đủ từ gia đình và xã hội" - ông Phạm Chánh Trung phân tích.

Ngoài ra, sự thay đổi trong quan niệm sống cũng là yếu tố đáng chú ý. Nếu trước đây "trời sinh voi sinh cỏ" là niềm tin phổ biến thì nay các gia đình trẻ lại ưu tiên chất lượng nuôi dạy hơn số lượng con. Một rào cản lớn khác là nhà ở. Nhiều cặp vợ chồng trẻ chưa có chỗ ở ổn định, nên không đủ tự tin để sinh con hoặc sinh thêm con.

Chính sách phải chạm tới đời sống

Từ thực tế trên, các chuyên gia đều thống nhất rằng muốn nâng mức sinh, chính sách phải đi vào những vấn đề cốt lõi của đời sống. Ông Phạm Chánh Trung đề xuất một loạt giải pháp mang tính "đòn bẩy". Trước hết là cải thiện phúc lợi và môi trường sống, đặc biệt trong giáo dục và y tế, để cha mẹ yên tâm làm việc và nuôi con. 

Thứ hai, cần ưu tiên cho các cặp vợ chồng đã sinh 2 con được mua hoặc thuê nhà ở xã hội với lãi suất ưu đãi. Thứ ba, khuyến khích doanh nghiệp áp dụng các mô hình làm việc linh hoạt hoặc làm việc tại nhà cho phụ nữ đang nuôi con nhỏ. Thứ tư, không chỉ phụ nữ, nam giới cũng cần có thời gian nghỉ phù hợp để chia sẻ trách nhiệm chăm sóc con cái. Đồng thời, cần hỗ trợ phụ nữ quay lại thị trường lao động sau sinh.

Ở góc độ truyền thông, ông Phạm Chánh Trung cho rằng cần chuyển từ thông điệp "giới hạn số con" sang nhấn mạnh giá trị của gia đình và hạnh phúc khi có con. Đồng thời, phải tôn trọng quyền lựa chọn của người dân theo tinh thần của Luật Dân số: "Mỗi cặp vợ chồng được quyền quyết định về thời gian sinh con, số con và khoảng cách giữa các lần sinh phù hợp với điều kiện của mình, trên cơ sở bình đẳng".

Ngoài ra, ông Phạm Chánh Trung cũng đề xuất các chính sách khen thưởng, hỗ trợ đối với gia đình sinh từ 2 con trở lên, tăng cường lắng nghe ý kiến người dân để điều chỉnh chính sách phù hợp thực tế.

Dân số và bài toán nguồn nhân lực quốc gia (*): Dân số bền vững là bài toán tổng thể - Ảnh 2.

Đồ họa: ANH THANH

Từ góc độ chính sách vĩ mô, GS-TS Nguyễn Thiện Nhân nhấn mạnh rằng dân số không chỉ là câu chuyện số lượng, mà là nền tảng của phát triển bền vững. Theo ông, mỗi người lao động đều có "vai trò kép": vừa tham gia sản xuất vừa tạo ra thế hệ lao động tương lai. Một đứa trẻ không chỉ là con của một gia đình, mà còn là nguồn nhân lực của quốc gia trong tương lai. Vì vậy, chính sách dân số phải gắn chặt với các chính sách về giáo dục, việc làm, nhà ở, an sinh xã hội và phát triển kinh tế.

"Thực tế cho thấy khi mức sinh đã giảm sâu, việc kéo trở lại là vô cùng khó khăn. Việt Nam vẫn còn cơ hội nhưng thời gian không còn nhiều. Nếu không có những thay đổi kịp thời, những hệ lụy của già hóa dân số sẽ ngày càng rõ rệt trong 20 - 30 năm tới. Ngược lại, nếu chính sách đủ mạnh, đủ đúng và đủ gần với đời sống thì người trẻ sẽ không còn "không dám sinh". Dân số bền vững không phải là khẩu hiệu. Đó là khi người trẻ cảm thấy họ có thể yên tâm sinh con, nuôi con và tin vào tương lai" - GS-TS Nguyễn Thiện Nhân nói.

Không chỉ tập trung vào khuyến sinh, một hướng tiếp cận mới đang được đặt ra. Theo TS Nguyễn Thụy Vũ, cần phát triển "kinh tế bạc", nền kinh tế xoay quanh nhu cầu và sự tham gia của người cao tuổi. Nếu được khai thác đúng hướng, già hóa dân số không chỉ là thách thức, mà còn có thể trở thành động lực tăng trưởng mới.

Bà Vũ cho rằng người cao tuổi không chỉ là nhóm phụ thuộc, mà còn có thể trở thành lực lượng tiêu dùng và lao động quan trọng. Các lĩnh vực như y tế chuyên sâu, nhà ở thích ứng, công nghệ hỗ trợ, du lịch, tài chính… đều có thể trở thành những ngành kinh tế mới.

"Người cao tuổi hoàn toàn có thể tiếp tục tham gia thị trường lao động trong các mô hình linh hoạt, tận dụng kinh nghiệm và kỹ năng tích lũy" - TS Nguyễn Thụy Vũ phân tích. 

Nguy cơ già hóa thành lực cản

TS Nguyễn Thụy Vũ, Viện trưởng Viện Đào tạo và Nâng cao TP HCM, nhấn mạnh: "Vấn đề không phải là có già hóa hay không, mà là già hóa trong điều kiện nào". Theo bà, nếu một quốc gia bước vào xã hội già với năng suất cao, hệ thống an sinh hoàn chỉnh và nguồn nhân lực chất lượng thì đó có thể là trạng thái ổn định. Ngược lại, nếu nền kinh tế chưa đủ mạnh, già hóa sẽ trở thành lực cản đối với tăng trưởng.

Từ thực tế quốc tế, TS Nguyễn Thụy Vũ cho biết khi mức sinh đã giảm sâu và kéo dài, rất ít quốc gia có thể đảo chiều xu hướng, dù đã chi hàng tỉ USD cho chính sách khuyến sinh. "Việt Nam đang phải giải bài toán của một xã hội già khi chưa kịp đạt nền tảng của một quốc gia giàu" - TS Nguyễn Thụy Vũ nhận định. Bà cũng cảnh báo những năm cuối của "cửa sổ dân số vàng" chính là giai đoạn quyết định để tái cấu trúc mô hình tăng trưởng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

(Còn tiếp)

(*) Xem Báo Người Lao Động từ số ra ngày 20-4