Đền thờ thái sư Lê Văn Thịnh tọa lạc ở sườn phía nam núi Thiên Thai, nay thuộc thôn Bảo Tháp, xã Đông Cứu, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.
Ngôi đền được xây dựng từ lâu đời bên cạnh chùa Thiên Thư, trên mảnh đất vốn là nhà riêng của thái sư Lê Văn Thịnh. Hiện trong khu di tích còn bảo lưu được nhiều tài liệu hiện vật phản ánh về cuộc đời, sự nghiệp thái sư Lê Văn Thịnh trong đó có tượng "Rồng đá", được các nhà nghiên cứu đánh giá là "độc nhất vô nhị" chưa từng có trong nền mỹ thuật Việt Nam.
Tượng tìm thấy vào năm 1991, khi nhân dân địa phương tiến hành tu sửa đền, ẩn dưới đám cây dại, ngay phía lối lên đền. Toàn thân tượng được tạc bằng khối đá sa thạch (đá cát) nặng gần 3 tấn, màu vàng cát với hình dáng độc đáo "nửa rồng, nửa rắn" trong tư thế "miệng cắn thân, chân xé mình". Thân rồng hình tròn phủ một lớp như vảy cá, không liền nhau mà được chia thành 2 phần đan chéo khá cân đối. Phần thân đầu nằm phía dưới, qua đoạn giao cắt với thân trên, đầu rồng vươn lên uốn cong rồi cúi xuống cắn chặt vào phần thân đuôi phía trên (đoạn giao cắt giữa hai phần). Phần thân đuôi thon dần như mình rắn, phía cuối, đuôi rồng uốn cong hình xoắn ốc như đang vận hết công lực để ghì chặt lấy phần thân đầu.
Theo bà Nguyễn Thị Trọng, Giám đốc Bảo tàng Bắc Ninh, vết đứt của hai phần thân rồng khá phẳng, gọn và cân đối, cho cảm giác đây là một tác phẩm hoàn chỉnh. Đây là chủ ý của tác giả chứ không phải là phần đứt gãy bị mất chưa tìm thấy như nhiều người suy luận. Chỗ giao nhau giữa phần thân đầu và phần thân đuôi liền nhau tạo thành một khối thống nhất.
Hình dáng tượng độc đáo, nửa là mình rắn, nửa lại mang tư thế và móng vuốt của rồng. Phần thân đuôi thon dần về cuối cuộn tròn kiểu xoắn ốc như đuôi rắn: đầu to, không râu, không bờm, lỗ mũi nhỏ, hai mang phình ra, miệng há rộng với hàm răng sắc nhọn trông giống một con mãng xà lớn.
Tuy nhiên, đôi mắt rồng lại rất to, trợn tròn, lồi ra ngoài trông dữ tợn, hai chân trước "mọc" ra ở phía dưới cổ, khuỳnh rộng sang hai bên, gân guốc với những móng vuốt nhọn hoắt cào xé vào thân mình, mang tư thế của một con rồng.
Đặc biệt, hai vành tai rồng nổi lên hai bên đầu phía trên mang, tai bên phải thì kín đặc còn tai trái thông với một lỗ nhỏ khá sâu. Tất cả những biểu lộ trên mình rồng rất sống động, thể hiện trạng thái đau đớn, giằng xé, căm phẫn cùng cực mà rồng đang trải qua.
Hồ sơ di sản của Cục Di sản văn hóa cho hay thêm chân rồng khuỳnh rộng sang hai bên với những móng vuốt nhọn hoắt, gân guốc, mỗi chân xòe rộng năm ngón bấu chặt vào phần thân đuôi.
Phần thân đuôi có một hàng vây lớn chạy dọc sống lưng, phía cuối đuôi uốn cong hình xoắn ốc như muốn vận công lực bẻ quặt đuôi lên phía trước để ghì chặt lấy phần thân đầu phía dưới. Tuy không phức tạp như rồng nhưng nghệ thuật tạo tác vẫn thể hiện kỹ, tinh xảo, khối hình nuột khỏe, dáng vẻ và tư thế của xà thần hết sức sống động.
Vì tượng rồng được tìm thấy trong khuôn viên nơi từng là tư gia của thái sư Lê Văn Thịnh, người đỗ trạng nguyên khoa thi đầu tiên của nhà Lý năm 1075, nên nhiều người cho rằng tượng chính là nơi gửi gắm những tâm sự về nỗi oan khiên mà thái sư Lê Văn Thịnh đã phải chịu trong vụ án trên hồ Dâm Đàm (Hồ Tây) đời vua Lý Nhân Tông.
Vụ án thái sư hóa hổ hại vua, hay còn gọi là vụ án hồ Dâm Đàm năm Bính Tý (1096) đã diễn ra cách đây 926 năm, song vẫn còn nhiều ẩn khuất do sử sách xưa ghi chép vắn tắt.
Theo ngọc phả, Lê Văn Thịnh sinh ngày 11 tháng 2 năm Canh Dần (1050) tại làng Gủ, thôn Bảo Tháp, trang Đông Cứu, lộ Bắc Giang. Thân phụ là ông Lê Văn Thành, một thầy lang giỏi, thân mẫu là bà Trần Thị Tín. Năm 25 tuổi, ông đỗ đầu khoa thi đầu tiên của Nho học Việt Nam. Dù lúc này chưa có danh hiệu trạng nguyên, song trong các sử liệu ông được xem là vị trạng nguyên đầu tiên trong lịch sử khoa bảng Việt Nam.
Tháng 12-1075, ông được bổ chức thị lang Bộ Binh và có những đóng góp nhất định trong việc bình Chiêm, phá Tống. Sau đó, ông với tài biện bác và khéo léo dùng luật của Tống để bẻ lại người Tống, ông đòi được đất đã mất về tay nhà Tống trước chiến tranh (6 huyện, 3 động, thuộc châu Quảng Nguyên, phần lớn thuộc đất Cao Bằng ngày nay). Vua Lê Nhân Tông đã gia phong ông lên chức thái sư.
Ở trên cương vị này, ông đã có những cuộc cải cách lớn. Tháng 8 năm Bính Dần (1086), ông đề xuất mở kỳ thi nho học tuyển người hiền tài lần thứ 2. Tiếp đến, ông cho quy hoạch chùa thành 3 hạng là đại, trung và tiểu danh lam, đồng thời bổ các quan văn nho học kiêm chức làm đề cử trông coi các chùa. Năm 1089, ông tiến hành biện pháp cải cách bộ máy nhà nước. Các quan văn võ, quan hầu vua và các chức tạp lưu cho gọn và hiệu quả với công việc.
Vào năm Bính Tý (1096) bất ngờ xảy ra vụ án Dâm Đàm (Hồ Tây). Đại Việt sử ký toàn thư chép: Bính Tý, Hội Phong năm thứ 5 (1096), mùa Xuân, tháng 3, Lê Văn Thịnh mưu làm phản, tha tội chết an trí ở Thao Giang. Bấy giờ vua ra hồ Dâm Đàm, ngự trên thuyền nhỏ xem đánh cá. Chợt có mây mù nổi lên, trong đám mây mù có tiếng thuyền bơi đến, tiếng mái chèo rào rào, vua lấy giáo ném. Chốc lát mây mù tan, thấy trong thuyền có con hổ, mọi người sợ tái mặt nói: "Việc nguy rồi"! Người đánh cá là Mục Thận quăng lưới trùm lên con hổ , thì ra là thái sư Lê Văn Thịnh. Vua nghĩ là đại thần, không nỡ giết, đày lên trại đầu Thao Giang. Thưởng cho Mục Thận quan chức và tiền của, lại cho đất Tây Hồ làm thực ấp. Trước đấy thái sư có gia nô người nước Đại Lý có phép thuật kỳ lạ, cho nên mượn thuật ấy toan mưu chuyện thí nghịch. Sử thần Ngô Sỹ Liên nói: Kẻ làm tôi phạm tội giết vua cướp ngôi mà được miễn tội chết, thế là sai trong việc hình, lỗi ở vua tin sùng đạo Phật.
Dù bị triều đình kết án, rồi phao tin chuyện hoang đường, nhưng người dân vẫn không tin là sự thực. Giới sử học cũng đều cho rằng việc thái sư Lê Văn Thịnh "hóa hổ giết vua" là chuyện hoang đường, thái sư bị oan và là nạn nhân của một âm mưu chính trị nào đó. Nguyên nhân vụ án oan có thể có nguồn gốc từ sự tranh giành quyền lực giữa các thế lực Nho giáo - Đạo giáo - Phật giáo về quyền lợi kinh tế của tầng lớp quý tộc và giới Phật giáo thời Lý.
Với trạng thái đau đớn, giằng xé, căm phẫn cùng cực thể hiện trên pho tượng, có ý kiến cho rằng, việc rồng tự cắn thân, xé mình biểu hiện cho việc đau lòng, hối hận của vua Lý Nhân Tông khi gây ra nỗi oan trái với người thầy của mình là Lê Văn Thịnh. Tượng rồng có đôi tai, thì một bên lành, một bên bị bịt kín, chính là biểu thị việc vua Lý nghe lời xiểm nịnh của gian thần.
Tuy nhiên, nhiều chuyên gia lại cho rằng, pho tượng này là biểu thị cho nỗi oan trái của thái sư Lê Văn Thịnh khi bị triều đình ghép tội "hóa hổ giết vua". Không ít ý kiến cho rằng bức tượng này mang nhiều đặc điểm và hình dáng của rắn chứ không phải rồng. Bởi rồng là biểu trưng cho các bậc đế vương, uy nghiêm, cao sang chứ không toát lên vẻ phẫn uất, đau đớn đến cùng cực như bức tượng này. Có thể bức tượng đầy ẩn ý, tâm sự ai oán này là hiện thân của thái sư Lê Văn Thịnh với nỗi đau đớn bị vu oan. Thêm vào đó, đền thờ một vị quan thì không thể có rồng, rồng là con vật gắn với vua.
Có lẽ chính vì còn nhiều tranh cãi, mà trong hồ sơ di sản của Cục Di sản văn hóa, bức tượng có hai tên "Rồng đá" hoặc "Xà thần". PGS-TS Tống Trung Tín, Chủ tịch Hội Khảo cổ Việt Nam, khẳng định đó là pho tượng rắn có niên đại thời Lý. Ông cũng chính là người đã đề nghị ghi tên bức tượng là Xà thần.


Bình luận (0)