1.
"Có những đường biên đã được xóa khỏi bản đồ từ rất lâu, nhưng phải mất nhiều thập niên con người mới học cách xóa chúng ngay trong lòng mình". Đó là một thực tế sau chiến tranh của nhiều quốc gia. Nhưng cũng từ thực tế ấy, Việt Nam đã có bài học hữu ích. Sau 51 năm hòa bình thống nhất đất nước, trong một không gian không còn bị chia cắt về lãnh thổ, Việt Nam bắt đầu một hành trình dài hơn, khó khăn hơn, đó là hàn gắn những "vết thương chiến tranh" không chỉ trên mặt đất, trên da thịt con người, mà còn là sự khác biệt trong ký ức cá nhân, trong lịch sử gia đình, trong trải nghiệm chiến tranh ở mỗi vùng miền, và trong cách mỗi người Việt nhìn về nhau, "định danh" nhau.
Nếu chấm dứt chiến tranh là một sự kiện, thì thống nhất và hòa hợp là một tiến trình xã hội, âm thầm nhưng bền bỉ, kéo dài qua nhiều thế hệ. Sau nửa thế kỷ, tiến trình ấy không chỉ là câu chuyện nhìn về quá khứ mà đang trở thành một phần quan trọng trong định hướng phát triển quốc gia. Những năm sau 1975, Việt Nam đối diện với một thực tế phức tạp hơn nhiều so với các khẩu hiệu mang tính bao quát: một dân tộc thống nhất về lãnh thổ nhưng ký ức và hậu quả chiến tranh còn quá nặng nề, đã tạo nên những khoảng cách âm thầm nhưng dai dẳng không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn tồn tại trong từng gia đình, từng thế hệ. Tuy nhiên, ngày càng có nhiều người Việt Nam không chọn cách phủ nhận hay "làm phẳng" những khác biệt đó, mà từng bước thấu hiểu và nhìn nhận một cách khoan hòa hơn. Có thể nói đó là quá trình tự hòa giải về nhận thức và tâm lý.
Từ phía Nhà nước, một dấu mốc quan trọng là Nghị quyết 36-NQ/TW (năm 2004) về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Nghị quyết đã khẳng định người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là nguồn lực quan trọng của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Đồng thời nhấn mạnh xóa bỏ định kiến, gắn kết kiều bào với quê hương, khuyến khích cống hiến, và bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người Việt xa xứ. Đây không chỉ là một chính sách đối ngoại mà là đổi mới tư duy, phản ánh cách nhìn nhân văn, phù hợp với thực tiễn hội nhập quốc tế. Từ phân tách sang bao dung, từ xa cách sang kết nối, khái niệm "kiều bào" dần được mở rộng thành một cách hiểu mới: người Việt toàn cầu - một bước tiến về tư duy quốc gia mang lại những chính sách mới.

Đoàn trí thức, doanh nhân kiều bào về thăm và chụp ảnh lưu niệm trước trụ sở UBND TP HCM Ảnh: HOÀNG TRIỀU
2.
Từ mục tiêu chính sách của Đảng và Nhà nước là xóa bỏ định kiến, tăng cường đoàn kết, gắn kết cộng đồng người Việt ở nước ngoài với quê hương; từ những giải pháp cụ thể để hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi để kiều bào về thăm quê hương, đầu tư, kinh doanh, hỗ trợ giữ gìn tiếng Việt và văn hóa dân tộc…, chủ trương hòa hợp không chỉ diễn ra bằng những tuyên bố mà bằng những thay đổi cụ thể, tích lũy theo thời gian. Từ sau thời kỳ "Mở cửa", sự kết nối cộng đồng người Việt ở nước ngoài bắt đầu bằng chính sách thị thực, sở hữu nhà ở, đầu tư... ngày càng cởi mở. Nhiều chương trình kết nối, gặp gỡ được tổ chức thường xuyên ở Hà Nội và TP HCM, nhất là vào dịp Tết cổ truyền, như: "Xuân Quê hương", trại hè thanh niên kiều bào, mạng lưới trí thức Việt toàn cầu... Đó là những hoạt động không chỉ mang tính biểu tượng mà tạo ra các không gian gặp gỡ thực chất, trao đổi thẳng thắn và cùng hướng đến một mục tiêu chung: Vì tương lai của đất nước.
Có thể nhận thấy chủ lưu của quá trình kết nối này là dòng chảy kinh tế và tri thức ngày càng mạnh. Kiều hối duy trì ở mức cao trong nhiều năm. Ngày càng có nhiều chuyên gia, doanh nhân, trí thức người Việt ở nước ngoài tham gia vào các dự án kinh tế, nghiên cứu khoa học và giảng dạy tại các trường đại học trong nước. Đây không chỉ là nguồn lực tài chính mà còn là nguồn lực mạng lưới và tri thức mang tính toàn cầu, góp phần kéo gần khoảng cách giữa Việt Nam và thế giới về kinh tế và khoa học kỹ thuật.
Thay đổi trong đời sống xã hội và văn hóa được nhận thấy rõ ràng nhất. Đó là ngày càng có nhiều người Việt ở nước ngoài thuộc thế hệ tham gia chiến tranh trở về thăm quê, tìm lại gia đình, tìm lại ký ức một thời đã qua. Người Việt thuộc thế hệ "hậu chiến" ra đi khi còn quá nhỏ hoặc được sinh ra ở nước ngoài, nhiều người trong số họ đã thành danh bằng những công trình khoa học, vị thế chính trị - xã hội hay tác phẩm văn học nghệ thuật…, và họ luôn tự hào "là người Việt Nam". Văn hóa đại chúng (âm nhạc, điện ảnh, ẩm thực…) đã trở thành cầu nối giữa các cộng đồng. Hòa hợp không còn là khái niệm chính trị mà đi vào đời sống thường ngày với từng người Việt một cách cụ thể, gần gũi. Tình cảm với quê hương là điểm khởi đầu, nhưng để người Việt toàn cầu thực sự gắn bó, điều cần hơn là một hệ sinh thái đủ cởi mở để họ thấy mình thuộc về đất nước.
Có một thực tế là các thế hệ người Việt Nam sinh sau chiến tranh và lớn lên trong bối cảnh hội nhập - dù ở trong hay ngoài nước - dần dần ít bị chi phối hơn bởi những phân tuyến lịch sử cũ. Họ luôn tôn trọng ký ức của thế hệ ông bà, cha mẹ, nhưng trong bối cảnh thế giới mới, trong những quan hệ kinh tế - xã hội mới, họ trở thành lực lượng thực hiện và thúc đẩy hòa hợp một cách tự nhiên, bắt đầu từ tâm thế của thế hệ "toàn cầu hóa".
Những sự thay đổi ấy diễn ra tuy không rầm rộ nhưng ngày càng bền chặt và đi vào chiều sâu. Đó là sự dịch chuyển trong cách hình dung về cộng đồng dân tộc. Nếu vào thập niên cuối thế kỷ 20, người Việt ở nước ngoài thường được nhìn như những người luôn "hướng về quê hương", thì ngày nay cách nhìn đó đang dần thay đổi, người Việt ở đâu cũng đang ở trong một Việt Nam mở rộng, không bị giới hạn bởi địa lý. Trong một thế giới vận hành bằng mạng lưới, cộng đồng người Việt toàn cầu là một trong những mạng lưới tự nhiên quan trọng nhất của đất nước. Dựa trên bản sắc văn hóa chung và khát vọng tương lai chung, kết nối Việt Nam với tri thức, công nghệ, thị trường và văn hóa quốc tế. Hòa hợp dân tộc vì thế không chỉ là vấn đề "hòa giải" với tình cảm hay lịch sử như ở giai đoạn hậu chiến, mà còn là một chiến lược phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
3.
Sau hơn nửa thế kỷ đất nước được nối liền bằng một đường biên thống nhất, thách thức hiện nay lớn hơn là làm sao để có thể nối liền những không gian ký ức, những trải nghiệm khác biệt, những cộng đồng phân tán trên toàn cầu.
Một trong những ngộ nhận lớn nhất về hòa giải là "phải quên đi quá khứ". Nhưng lịch sử đã cho thấy, không một dân tộc nào có thể quên đi lịch sử của mình. Cũng từ bài học của nhiều quốc gia, "hòa hợp" là không xóa bỏ khác biệt mà chấp nhận có nhiều trải nghiệm khác nhau về cùng một thời kỳ, có nhiều ký ức cùng tồn tại, và những ký ức ấy không nhất thiết phải triệt tiêu nhau.
Trong thực tế, còn đó những khác biệt trong cách nhìn về lịch sử, những khoảng cách giữa các thế hệ và giới hạn trong đối thoại và niềm tin. Nhưng điều đáng ghi nhận là cách xã hội Việt Nam hôm nay đang đối diện với những vấn đề ấy: nhiều người (thuộc các thế hệ khác nhau) đã nhìn nhận sự khác biệt mà không còn cực đoan đẩy thành "đối lập", họ bình tĩnh và cởi mở hơn trong tìm hiểu đối thoại, thực tế và cụ thể hơn khi đưa ra giải pháp. Bởi vì ngày càng nhiều người Việt Nam hiểu rằng, để có hòa hợp thực sự là cần tạo ra một không gian chung, nơi các khác biệt có thể cùng tồn tại mà không dẫn đến chia rẽ và triệt tiêu nhau. Khi tất cả những khác biệt ấy cùng hiện diện thì mới tạo nên lịch sử Việt Nam một cách khách quan và công bằng. Khách quan và công bằng đối với quá khứ chính là con đường cao tốc đi đến tương lai.
TP HCM, tháng 4-2026
Bình luận (0)