PGS-TS-BS Vương Thị Ngọc Lan, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Y Dược TP HCM, là bác sĩ (BS) đại diện duy nhất của châu Á trong nhóm tác giả chủ chốt xây dựng hướng dẫn dự phòng - chẩn đoán - điều trị hiếm muộn năm 2025 của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) vừa được công bố.
1.Quá trình biên soạn hướng dẫn của WHO kéo dài gần 7 năm với hơn 200 cuộc họp chuyên môn, phần lớn là họp trực tuyến diễn ra vào 2-3 giờ sáng (theo giờ Việt Nam). Mỗi khuyến cáo đều phải dựa trên bằng chứng tốt nhất hiện có, được thảo luận, phản biện nhiều vòng và cân nhắc tính công bằng trong tiếp cận ở các quốc gia có điều kiện khác nhau.
Điều khiến BS Lan cảm thấy ý nghĩa nhất là WHO lần đầu tiên công bố một bộ hướng dẫn đầy đủ về dự phòng, chẩn đoán và điều trị hiếm muộn, qua đó chính thức ghi nhận hiếm muộn là một vấn đề sức khỏe cần được quan tâm toàn cầu.

PGS-TS Vương Thị Ngọc Lan (bìa trái) trao giải cho các tác giả đoạt giải cuộc thi viết “Người thầy thuốc trong tôi” do Báo Người Lao Động tổ chức. Ảnh: HOÀNG TRIỀU
"Trong quá trình làm việc cùng các chuyên gia đến từ nhiều quốc gia, tôi có cơ hội học hỏi rất nhiều, không chỉ về chuyên môn mà còn về cách tiếp cận khoa học dựa trên bằng chứng và sự đồng thuận quốc tế. Tôi cũng rất vui khi biết rằng một đồng nghiệp khác của Việt Nam đã tham gia phản biện một phần của khuyến cáo. Điều này cho thấy tiếng nói chuyên môn của Việt Nam ngày càng được lắng nghe trong cộng đồng y học quốc tế" - BS Lan hào hứng kể.
BS Lan là tác giả và đồng tác giả của hơn 80 đề tài nghiên cứu và bài báo khoa học đăng trên các tạp chí chuyên ngành uy tín trong và ngoài nước. Tiêu biểu như nghiên cứu so sánh chuyển phôi tươi và chuyển phôi trữ lạnh ở các bệnh nhân có chu kỳ phóng noãn, công bố trên The New England Journal of Medicine năm 2018. Kết quả nghiên cứu được lựa chọn là một trong 6 nghiên cứu đột phá, báo cáo tại hội nghị của Hội Y học Sinh sản Mỹ (ASRM) năm 2016. Đây cũng là lần đầu tiên chuyên ngành hỗ trợ sinh sản của Việt Nam được ghi nhận như một nhóm nghiên cứu học thuật có uy tín trên trường quốc tế. Một nghiên cứu đáng chú ý khác là nghiên cứu so sánh kỹ thuật trưởng thành noãn non trong ống nghiệm (In Vitro Maturation - IVM) với kỹ thuật thụ tinh ống nghiệm (IVF) ở bệnh nhân hội chứng buồng trứng đa nang, công bố trên Human Reproduction năm 2020 và báo cáo tại hội nghị của ASRM năm 2019.
"Những nghiên cứu này khẳng định khoa học Việt Nam hoàn toàn có thể đóng góp những bằng chứng quan trọng cho y học thế giới, nếu chúng ta làm việc nghiêm túc, bài bản và đặt lợi ích người bệnh làm trung tâm" - BS Lan tự hào nói.
2.Những năm 1990, lãnh đạo Bệnh viện Từ Dũ có tầm nhìn và đặt nền móng cho kỹ thuật IVF ở Việt Nam. BS Lan và chồng (ThS Hồ Mạnh Tường, Tổng Thư ký Hội Nội tiết sinh sản và vô sinh TP HCM) được chọn đi học và nằm trong ê-kíp thực hiện kỹ thuật IVF đầu tiên ở Việt Nam.

Gia đình 3 thế hệ của BS Vương Thị Ngọc Lan thực hiện ca mổ lấy thai vào ngày mùng 1 Tết. (Ảnh do nhân vật cung cấp)
Trong hơn 28 năm làm việc, bà đã gặp hàng chục nghìn cặp vợ chồng hiếm muộn. BS Lan nhớ nhất những ngày đầu làm kỹ thuật IVF, khi chưa lập gia đình, chưa hiểu hết những áp lực mà các cặp vợ chồng phải trải qua. Có một cặp vợ chồng trí thức, rất đẹp đôi đến khám. Ca đó rất khó vì người vợ bị khối u lạc nội mạc tử cung ở buồng trứng, đã mổ nhiều lần, dự trữ buồng trứng giảm nghiêm trọng. Lúc ấy, Việt Nam chưa có kỹ thuật xin noãn. Sau đó, khi đi học thạc sĩ ở Singapore, bà tìm đến một bệnh viện lớn để học kỹ thuật này.
Về lại Việt Nam, bà háo hức gọi điện cho người vợ, mời chị đến điều trị. Nhưng câu trả lời khiến bà lặng người: "Vợ chồng tôi đã ly dị rồi!".
"Khoảnh khắc đó khiến tôi nhận ra tác động nặng nề của hiếm muộn lên hạnh phúc gia đình. Tôi hiểu rõ hơn ý nghĩa công việc mình đang làm và tự nhủ phải luôn nỗ lực học hỏi để giúp bệnh nhân nhiều nhất. Đó cũng là động lực để tôi và đồng nghiệp cố gắng, không chỉ bằng chuyên môn mà còn bằng sự thấu cảm" - BS Lan nhớ lại.
3.Khi tôi hỏi: "Mỗi lần nhắc đến BS Vương Thị Ngọc Lan, người ta nhớ ngay đến GS-BS - Anh hùng Lao động Nguyễn Thị Ngọc Phượng. Điều này có làm BS áp lực hay không?". BS Lan cho hay chưa bao giờ áp lực mà đó là một niềm tự hào. Bà may mắn vì được sinh ra, lớn lên và trưởng thành trong một gia đình mà những giá trị về y đức, trách nhiệm với người bệnh và sự cống hiến cho xã hội luôn hiện hữu. "Mẹ tôi là người rất đặc biệt với những đóng góp mang tính nền tảng cho ngành sản phụ khoa và hỗ trợ sinh sản Việt Nam. Nhưng mẹ chưa bao giờ đặt lên vai tôi kỳ vọng phải "trở thành một bản sao" hay phải làm điều gì đó để so sánh. Điều mẹ dạy tôi nhiều nhất không phải là thành tích, mà là làm nghề một cách tử tế, nghiêm túc và có trách nhiệm, dù ở bất kỳ vị trí nào" - BS Lan cho hay.
Trong hành trình nghề nghiệp của mình, BS Lan luôn ý thức rằng mỗi thế hệ có một sứ mệnh riêng. Nếu thế hệ của mẹ là những người đặt nền móng thì thế hệ của bà là những người tiếp nối, phát triển và hội nhập, trong một bối cảnh hoàn toàn khác, với những thách thức mới về khoa học - công nghệ và chuẩn mực quốc tế. Vì vậy, thay vì áp lực, bà chọn cách coi đó là động lực để làm tốt phần việc của mình, góp một phần nhỏ vào sự phát triển chung của ngành và của đất nước.
Bên cạnh mẹ và chồng thì con gái của BS Lan, Hồ Ngọc Lan Nhi (Trường ĐH Khoa học Sức khỏe TP HCM), cũng là BS sản khoa. Ba thế hệ bà - mẹ - cháu từng xuất hiện trong ca phẫu thuật vào sáng mùng 1 Tết. Đó là ca mổ lấy thai cho một sản phụ đã trải qua nhiều chu kỳ chuyển phôi mới có thể mang thai thành công. Với gia đình người bệnh, đó là kết quả của một hành trình rất dài, đầy nước mắt và hy vọng. Với gia đình BS Lan, đó là khoảnh khắc đặc biệt: người bà là BS kỳ cựu, người mẹ là BS trực tiếp đồng hành với quá trình điều trị hiếm muộn và người cháu - dù còn rất trẻ - đã bắt đầu những bước đầu tiên trên con đường y khoa.
Giữa không khí thiêng liêng ngày đầu năm mới, khoảnh khắc em bé chào đời không chỉ mang lại niềm hạnh phúc cho gia đình sản phụ, mà còn là một niềm xúc động đối với ê-kíp y - BS. Đó như một sự tiếp nối của nghề, của tâm huyết và của lý tưởng "gieo mầm sự sống" trao truyền qua nhiều thế hệ.
Đáng chú ý, nghiên cứu so sánh các phác đồ chuẩn bị nội mạc tử cung để chuyển phôi trữ lạnh ở những phụ nữ có chu kỳ phóng noãn do PGS-TS Vương Thị Ngọc Lan và các cộng sự thực hiện, công bố trên tạp chí y khoa hàng đầu thế giới The Lancet năm 2024 với chỉ số Impact Factor (IF) 98,4. Đây là nghiên cứu ngẫu nhiên có nhóm chứng lớn đầu tiên trên thế giới nhằm xác định phác đồ tối ưu, không chỉ về hiệu quả mà còn về độ an toàn cho người bệnh.
Bình luận (0)