Một phác thảo vẽ cho phim Thái tổ Lý Công Uẩn. Ảnh: Tư liệu
 
Sơ duyệt bối cảnh phim Thái tổ Lý Công Uẩn, GS Lê Văn Lan nói: Phác thảo phim triều Lý quá dễ dãi... GS Lê Văn Lan "kinh hoàng" trước bối cảnh phim triều Lý của đạo diễn Đỗ Minh Tuấn. Những phác thảo phục trang và bối cảnh cuả phim Thái tổ Lý Công Uẩn đã khiến GS Lê Văn Lan “kinh hoàng” còn đạo diễn Đỗ Minh Tuấn lại tỏ ra kinh hoàng trước những lời phản biện trên công luận. 
 
Sau buổi sơ duyệt phác thảo phục trang và bối cảnh phim Thái tổ Lý Công Uẩn, dư luận có nhiều ý kiến chê trách, lo lắng cho bộ phim tương lai. GS Lê Văn Lan, một thành viên của Hội đồng biên tập phim, cũng có những ý kiến phê phán khá mạnh mẽ.
 
Thực ra, bản chất của buổi sơ duyệt này là báo cáo các kết quả nghiên cứu, khảo cứu ban đầu để làm cơ sở cho các nghệ sĩ sáng tác. Giống như kéo nhau đi xem mảnh đất sẽ xây nhà, xem catalog của mấy ngôi biệt thự và nghe ông chủ trình bày kế hoạch thuê thợ xây dựng..., chưa phải xem bản thiết kế ngôi nhà tương lai. Nhưng công luận và các nhà chuyên môn lại nhìn những phác thảo nghiên cứu đó như những phác thảo sản xuất nên phê phán nó!
Một bộ phim bình thường cũng chưa thể duyệt phác thảo bối cảnh và phục trang sau vài tháng như vậy, huống hồ đây là một bộ phim có quy mô lớn gấp trăm lần. Đây là bộ phim đặc biệt nên mỗi công đoạn với các phim khác thực hiện một bước thì phim này phải thực hiện nhiều bước nhỏ. Để đi đến một buổi duyệt phác thảo bối cảnh thực sự, phải qua vài chặng khảo cứu, nghiên cứu và sáng tác nữa với sự tham gia trực tiếp của đạo diễn và họa sĩ. Phải ít nhất ba, bốn tháng nữa mới có thể duyệt phác thảo bối cảnh và phục trang chính thức. Vì anh Lê Đức Tiến, Giám đốc Hãng phim Truyện Việt Nam, lúc đó muốn tranh thủ sự đồng thuận xã hội nên mời báo chí đến quá sớm, ngay từ bước sơ khởi mang tính nội bộ, dẫn đến việc những bộn bề "rau dưa bếp núc" bị nhìn nhận đánh giá như bữa tiệc linh đình. GS Lê Văn Lan có nói rằng những phác thảo bất cập là do các nghệ sĩ làm mà thiếu sự tham gia của các nhà khoa học.
 
Để khắc phục, GS Lê Văn Lan cho rằng hai ông họ Lê (Lê Đức Tiến - nhà sản xuất và Lê Văn Lan – nhà khoa học) cần phối hợp chặt chẽ hơn. Tôi không nghĩ vậy. Thực ra, trong giai đoạn đầu tiên này, anh Tiến có biểu hiện coi trọng các nhà khoa học hơn nghệ sĩ. Việc sửa chữa viết lại kịch bản GS Lê Văn Lan được tham gia góp ý từ đầu đến cuối, đọc kịch bản năm lần bảy lượt nhưng tôi là đạo diễn trong Ban Dự án mà có được biết gì đâu?! Vì nhà sản xuất quá coi trọng nhà khoa học nên các phác thảo được trưng bày đậm tính nghiên cứu mà chưa thấy tư duy nghệ sĩ. Ta có thể thấy dấu vết của các nhà khoa học ở những bản vẽ kỹ thuật thiết kế điện Càn Nguyên, những mẫu phục trang thể hiện sự nghiên cứu trang phục của nhà Tống, của tượng Kim Cương… nhưng ta chưa thấy trí tưởng tượng của nghệ sĩ và những hình tượng điện ảnh gắn liền với nhân vật, tôn giáo và triều đại.
Chẳng hạn, mảng Hoa Lư gắn với thời trẻ của Lý Công Uẩn và Ngọa Triều Hoàng đế vừa sơ sài mờ nhạt vừa thiếu những góc nhìn điện ảnh vừa không tạo thành một mảng có sắc thái văn hóa riêng phân biệt với mảng bối cảnh Thăng Long.
Nếu tôi chỉ đạo làm các thiết kế này, tôi sẽ phải phân tích cho họa sĩ sự khác nhau về phương diện hình tượng và văn hóa của hai mảng bối cảnh trên, để chuỗi hình ảnh trưng bày gắn liền với các nhân vật ở các thời điểm quan trọng và thể hiện sự vận động của cảm xúc và hình tượng.
Và cũng phải đưa vào các bối cảnh tinh thần tôn giáo - một yếu tố quan trọng của văn hóa thời Lý. Nhưng vì đây mới chỉ là các phác thảo tổng hợp những nghiên cứu nên anh Lê Đức Tiến (giám đốc sản xuất) chưa đưa đạo diễn vào cuộc. Mọi công việc thiết kế bối cảnh tạm giao cho họa sĩ Phạm Quốc Trung và một họa sĩ trẻ mới vào nghề thể hiện. Người thì bận làm phim Nhật ký Đặng Thùy Trâm, người thì chưa đủ sự tích lũy về tay nghề và kiến thức nên bối cảnh chủ yếu là Việt hóa các bối cảnh của Trung Quốc thấy được qua khảo sát.
 
GS Lê Văn Lan nói rằng phác thảo dở và sai là do nghệ sĩ sáng tác một mình, thiếu sự chỉ đạo của các nhà khoa học là không đúng. Nhìn chung, những phác thảo hôm đó chưa phải là con đẻ của các nghệ sĩ, chưa có sự chỉ đạo của đạo diễn và họa sĩ phim. Nhưng với tư cách là những ý tưởng ban đầu thì mảng phục trang của TS Nguyễn Thị Tình và những gợi ý bằng hình và bằng lời của họa sĩ Phan Cẩm Thượng là rất có giá trị. Như vậy, mối quan hệ giữa nhà sản xuất, nhà khoa học và nghệ sĩ hiện nay đang có vấn đề? Theo anh nên xử lý mối quan hệ đó thế nào để đi đến những phác thảo có tính nghề nghiệp hơn, có thể dựa theo đó mà may phục trang hay xây dựng bối cảnh cần nhanh chóng đưa nghệ sĩ vào cuộc. Nghĩa là, mối quan hệ nghệ sĩ và nhà sản xuất cần chặt chẽ hơn, chứ không phải mối quan hệ nhà khoa học và nhà sản xuất cần gắn bó hơn. Không phải hai ông họ Lê cần hợp tác chặt chẽ hơn mà hai ông họ Lê cần hợp tác chặt chẽ hơn với các ông nghệ sĩ họ Đỗ, họ Vương, họ Vũ và nhiều họ khác chứ không chỉ họ Lê!
 
GS Lê Văn Lan là một học giả uyên bác, nhiệt tình, cởi mở, có nhiều ý kiến sắc sảo. Trong quá trình sáng tác, chúng tôi vẫn thường xuyên tranh thủ tham khảo ý kiến của ông. Nghệ sĩ cần lắng nghe các nhà khoa học nhưng mặt khác, các nhà khoa học không nên làm "dì ghẻ" của nghệ sĩ, bao sân mọi quá trình sáng tác. Nên để cho nghệ sĩ sáng tác phóng túng theo cảm xúc rồi tư vấn và phản biện.
Bộ phim tương lai là thành quả chung của nhà sản xuất, nhà khoa học và nghệ sĩ nhưng nếu không tôn trọng trí tưởng tượng phóng túng và cảm xúc mãnh liệt của nghệ sĩ mà cứ bắt họ lẽo đẽo sau lưng nhà khoa học thì làm sao có tác phẩm hay? Cũng giống như bữa tiệc thịnh soạn là sản phẩm chung của người nuôi lợn, đồ tể và đầu bếp, song nếu không cho đầu bếp vào hành nghề thì sao có bữa tiệc ngon?! Phản biện dựa trên hai tiêu chí chọi nhau.
 
Bộ phim là sản phẩm của các nghệ sĩ là hiển nhiên. Nhưng nếu không có các nhà khoa học tham gia vào quá trình sáng tác thì làm sao bộ phim có thể chính xác với lịch sử? Nhà khoa học chỉ có thể tư vấn và phản biện, nếu họ tham gia trực tiếp vào quá trình sáng tác thì khác gì đòi bác sĩ phụ khoa lên giường với chị em đến khám?! Nói vui vậy thôi nhưng quả thực hiện nay trong xã hội có sự lầm lẫn đánh đồng giữa tư vấn, phản biện và sáng tác. Xã hội trông cậy vào nhà khoa học quá nhiều trong việc sáng tác phim lịch sử. Nhiều nghệ sĩ dám ngồi không đúng chỗ vì hy vọng được các nhà khoa học cầm tay chỉ việc. Sáng tác là công việc của trí tưởng tượng nghệ sĩ, không thể trông chờ các nhà khoa học sáng tác thay. Nếu không phân biệt được tư duy khái niệm của nhà khoa học và tư duy hình tượng của nghệ sĩ thì sẽ dẫn đến mâu thuẫn về tiêu chí.
Tôi thấy kinh hoàng trước những lời phản biện vì thấy rõ các tiêu chí chọi nhau. Anh có thể nói rõ hơn thế nào là mâu thuẫn trong tiêu chí? Có thể thấy rất rõ hiện nay các phản biện của xã hội với bộ phim tương lai thường căn cứ trên hai tiêu chí: 1. Phải đúng với lịch sử; 2. Phải mang bản sắc Việt Nam. Thoạt nghe, hai tiêu chí này đều khoa học và hỗ trợ cho nhau. Nhưng trên thực tế hai tiêu chí này bị mâu thuẫn với nhau nên đáp ứng được cái này thì lại hỏng cái kia. Chẳng hạn, TS Nguyễn Thị Tình đã tham khảo phục trang nhà Tống để đưa vào phác thảo phục trang của Lê Long Đĩnh và cả của Lý Công Uẩn thời chưa làm vua. Đó là những phác thảo ban đầu rất đúng với lịch sử vì trong sử ghi rõ năm Bính Ngọ, Ngọa Triều Hoàng đế xuống chỉ sửa đổi quan chế và triều phục của các quan văn võ và tăng đạo đúng như nhà Tống. Nghĩa là dưới triều đại Lê Long Đĩnh trị vì, trang phục của vua quan và tăng lữ, trong đó có Lý Công Uẩn, là trang phục nhà Tống.
Thế nhưng, những phác thảo đầy tính khoa học, chính xác với lịch sử đó lại bị GS Lê Văn Lan phê phán là không mang tính Việt Nam, báo chí trích lại giật tít kiểu “Lý Thái Tổ là vua Tàu?”, rồi vẽ rắn thêm chân, bình loạn thêm làm các họa sĩ hoang mang, rối trí và dư luận xã hội ngờ vực bộ phim tương lai. Như vậy có phải là lấy tiêu chí “Phim phải mang tính chất Việt Nam” để chọi lại tiêu chí “Phim phải đúng với lịch sử” không?

Theo GS Lê Văn Lan, “văn hóa ngựa xe” vốn được bắt nguồn từ văn hóa chăn nuôi thảo nguyên chỉ có ở Trung Quốc, còn ta là nước lắm sông ngòi hồ ao, lại ít ngựa, nên không có văn hóa ngựa xe? Tôi không nghĩ như vậy. Quân xâm lược phương Bắc và quân Nguyên Mông đã sử dụng hàng vạn con ngựa để dày xéo Việt Nam, phi ngựa vào tận thành Thăng Long, hà cớ gì người Việt không thể phi ngựa trên đất Việt? Bảo là ngựa ít không thể có văn hóa ngựa cũng không chính xác. Trung Quốc từng có hàng triệu con ngựa nhưng sau khi nhà Hán sụp đổ, rợ Hung Nô đã thống trị miền Bắc Trung Hoa và lấy ngựa đi nên khi nhà Đường thành lập cả Trung Hoa vỏn vẹn chỉ có khoảng 5.000 con ngựa. Vậy mà 50 năm sau, số ngựa của Trung Quốc đã lên tới 706.000 con. Nước mình cũng vậy thôi, lúc đầu ít ngựa nhưng rồi ngựa của giặc mình bắt được đẻ thêm ra hàng vạn con. Thời Lý, cụ Lý Công Uẩn đã bắt được hơn một vạn con ngựa, bắt của người Man sang ta buôn bán chui. Tức là chỉ một món chiến lợi phẩm của nhà Lý đã gấp đôi số ngựa của nhà Đường lúc mới thành lập. Thế thì tại sao nước ta lại không thể có văn hóa ngựa xe?
 
Thực tế là các cụ tổ ta đã sử dụng ngựa xe từ mấy ngàn năm rồi. Trong Đại Việt sử ký toàn thư ghi rất nhiều việc liên quan đến ngựa xe. Năm Canh Thân (181 tr. Tây lịch), Hán triều sai tướng đem quân sang đánh Nam Việt. Quân nhà Hán chịu không được thủy thổ phương Nam, nhiều người phải bệnh tật, bởi vậy phải thua chạy về Bắc. Từ đó, thanh thế Triệu Vũ Đế lừng lẫy, đi đâu dùng xe ngựa theo nghi vệ hoàng đế, như vua Nhà Hán vậy.
Từ thế kỷ thứ ba, sau khi Sĩ Nhiếp sang truyền chữ Hán cho dân ta, nhậm chức Thái thú, sử đã ghi “xe ngựa đầy đường”, người Hồ đi sát bánh xe để đốt hương, bọn con em thì cưỡi ngựa dẫn quân theo. Tiểu sử Sĩ Nhiếp ở Ngô Chí cũng viết như vậy. Bia Tháp, Sùng Thiện Diên Linh của vua Lý Nhân Tông do thượng thư Nguyễn Công Bật soạn kể lại cuộc đời, sự nghiệp của vua và việc xây dựng tháp cùng một số công trình kiến trúc khác có tới 12 lần nhắc đến ngựa xe, xe giá, xe ngọc, xe phượng rồi xe châu rong ruổi đường vàng, ngày khánh thành. Vua lệnh chỉnh đốn ngựa xe, rồi ngựa xe thập phương tấp nập thăm chùa, có thể hình dung như bãi xe máy bạt ngàn ở cạnh phủ Tây Hồ bây giờ ấy.
*
*    *
 
Tôi vốn là người nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn trước khi đi học đạo diễn nên trong nhà sẵn các loại sách vở và tài liệu. Hai năm nay để viết hai kịch bản tham gia đấu thầu đạo diễn, tôi phải tra cứu nhiều nên nhớ. Kịch bản của tôi cũng khai thác nhiều tình tiết liên quan đến ngựa, chẳng hạn hư cấu chuyện Châu Vị Long câu kết với Đào Khánh Văn mưu phản đã dâng bạch mã cho Lý Công Uẩn để gài giám mã làm gián điệp, sau này đức độ của Lý Công Uẩn và hoàng hậu đã thu phục được viên giám mã và vì thế phá tan âm mưu ám sát Hoàng đế của đám này.
Khi việc xây thành Thăng Long gặp nhiều trắc trở do bọn đạo sĩ thuộc phe chống đối hoang tin đánh vào sự mê tín của dân Đại La, Lập Giáo Hoàng hậu đã bố trí cho con bạch mã này phi qua cửa đền trong đêm lúc vua Lý Công Uẩn khấn thần Long Đỗ, giải tỏa những lo lắng của nhân dân.
Khi biết tin con trai là Khai Quốc vương Bồ làm phản, chiêu tập bọn tù nhân được cha phóng thích để nhũng nhiễu cướp bóc ức hiếp nhân dân, Lý Công Uẩn đã căm phẫn nhảy lên lưng bạch mã lao trong mưa phi đến phủ Trường Yên tìm Khai quốc vương Bồ để hỏi tội, nhưng đã bị đột quỵ trước khi gặp con trai...
Nguyễn Quốc Đạt (nguyenquocdat…@yahoo.com)