Ngay sau khi Đề án "Phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL đến năm 2030" (gọi tắt là Đề án 1 triệu ha lúa) được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành cuối năm 2023, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã phối hợp với các địa phương miền Tây triển khai thí điểm.
Thay đổi cách nghĩ, cách làm
Qua gần 2 năm thực hiện thí điểm Đề án 1 triệu ha lúa, kết quả đạt được cho thấy hướng đi này là đúng đắn, được cộng đồng doanh nghiệp, tổ chức quốc tế và nông dân ĐBSCL đánh giá cao. Nhiều ý kiến nhìn nhận đề án này đã đánh dấu bước chuyển quan trọng trong định hướng phát triển ngành lúa gạo Việt Nam theo hướng hiện đại, bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Đề án 1 triệu ha lúa đã thay đổi tập quán sản xuất của nông dân
Theo Trung tâm Khuyến nông quốc gia, năm 2024-2025, trung tâm đã phối hợp với các địa phương và đối tác liên quan triển khai 7 mô hình thí điểm Đề án 1 triệu ha lúa tại Cần Thơ, Vĩnh Long, Đồng Tháp và An Giang. Sau 3 vụ sản xuất liên tiếp, các mô hình đã cho thấy hiệu quả rõ rệt. Chi phí sản xuất giảm từ 8,2%-24,2% so với phương thức canh tác truyền thống; lượng giống gieo sạ giảm 30%-50%, phân bón giảm 30-70 kg/ha, lượng nước tưới giảm 30%-40%, số lần phun thuốc bảo vệ thực vật cũng giảm...
Không chỉ giảm chi phí đầu vào, các mô hình thí điểm còn cho thấy hiệu quả kinh tế vượt trội. Theo đó, năng suất lúa tăng 2,4%-7%, thu nhập của người dân tăng 12%-50% - tương đương mức tăng từ 4 đến 7,6 triệu đồng/ha so với mô hình đối chứng. Việc áp dụng đồng bộ các quy trình canh tác tiên tiến còn giúp giảm phát thải 2-12 tấn CO2/ha, đồng thời hạn chế tối đa tình trạng đốt rơm rạ sau thu hoạch - một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm không khí tại khu vực nông thôn.

Một mô hình thí điểm thực hiện Đề án 1 triệu ha lúa tại TP Cần Thơ
Sự chuyển biến không chỉ thể hiện qua những con số về kinh tế nêu trên mà còn ở nhận thức và tư duy sản xuất của người dân. Từ chỗ quen với tập quán canh tác truyền thống, phụ thuộc nhiều vào phân bón và thuốc bảo vệ thực vật hóa học, người dân từng bước tiếp cận phương thức sản xuất khoa học hơn, chú trọng cân bằng sinh thái, giảm phát thải và bảo vệ môi trường. Năng lực cộng đồng được nâng lên, kế hoạch sản xuất gắn với yếu tố sinh thái được cải thiện, góp phần nâng cao hình ảnh và thương hiệu lúa gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Ông Cao Đức Phát, nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cho rằng Đề án 1 triệu ha lúa là sự hội tụ tinh hoa của ngành lúa gạo Việt Nam. Đề án có sự tham gia đồng bộ của ngành khoa học công nghệ, cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức sản xuất.
Thực tế triển khai thí điểm cho thấy Đề án 1 triệu ha lúa đã tạo ra bước đột phá về nhận thức, khi mô hình sản xuất chất lượng cao gắn với giảm phát thải và nâng cao thu nhập cho nông dân đã được kiểm chứng, được người dân đồng thuận và chủ động tham gia. Đây cũng là hướng đi phù hợp để giải quyết đồng thời các bài toán về môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu và thực hiện cam kết giảm phát thải khí nhà kính của Việt Nam.
Đánh giá về quá trình triển khai đề án tại địa phương, ông Trần Chí Hùng, Phó Chủ tịch UBND TP Cần Thơ, cho biết một số hợp tác xã (HTX) đã mạnh dạn áp dụng mô hình canh tác theo hướng kinh tế tuần hoàn. Rơm rạ sau thu hoạch không còn bị đốt bỏ mà được thu gom để trồng nấm, phần phụ phẩm tiếp tục được xử lý làm phân bón hữu cơ phục vụ vụ sau. Cách làm này hình thành chuỗi sản xuất khép kín, vừa giảm phát thải, vừa gia tăng giá trị cho người trồng lúa, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên trong sản xuất nông nghiệp.
Tại TP Cần Thơ, HTX Nông nghiệp và Dịch vụ Tiến Thuận là một trong những đơn vị tham gia thực hiện thí điểm đề án khá sớm với diện tích ban đầu 50 ha. Ông Nguyễn Cao Khải, Giám đốc HTX, nhận xét việc áp dụng các quy trình canh tác theo đề án đã mang lại hiệu quả rõ rệt ngay từ những vụ đầu.
"Người dân giảm được lượng phân bón, nước tưới, giống gieo sạ nhưng năng suất lúa vẫn tăng. Điều quan trọng hơn là môi trường được cải thiện, giảm được khí phát thải nên người dân rất phấn khởi. Có thể khẳng định mô hình này giúp người dân thay đổi cách nghĩ, cách làm từ tập quán truyền thống sang sản xuất theo hướng chất lượng, hiệu quả kinh tế và thân thiện với môi trường" - ông Khải nhìn nhận.
Thu hút thêm doanh nghiệp tham gia
Bà Trần Thu Hà, Giám đốc Dự án "Chuyển đổi chuỗi giá trị lúa gạo ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững ở ĐBSCL" (TRVC), thông tin dự án đã thuê các tổ chức quốc tế độc lập để kiểm định, đồng thời ứng dụng trí tuệ nhân tạo và ảnh vệ tinh để giám sát toàn bộ quá trình sản xuất trong khuôn khổ Đề án 1 triệu ha lúa. Kết quả giám sát được thể hiện thông qua các báo cáo minh bạch, làm cơ sở để Hiệp hội Ngành hàng Lúa gạo Việt Nam cấp nhãn hiệu "Gạo Việt xanh phát thải thấp".
Sau 2 vụ sản xuất, dự án TRVC đã triển khai thực hiện hơn 50.000 ha, với khoảng 70.000 tấn "Gạo Việt xanh phát thải thấp" được chứng nhận cho 10 doanh nghiệp. Trong đó, một doanh nghiệp đã xuất khẩu thành công 500 tấn gạo mang nhãn hiệu này sang Nhật Bản - một trong những thị trường khó tính bậc nhất thế giới. Việc này mở ra triển vọng lớn cho lúa gạo Việt Nam trong phân khúc chất lượng cao và phát thải thấp.
Dù đạt được nhiều kết quả tích cực song quá trình nhân rộng thực hiện Đề án 1 triệu ha lúa vẫn đối mặt không ít thách thức. Theo đánh giá của các địa phương, khó khăn lớn nhất hiện nay là việc thu hút doanh nghiệp tham gia sâu và bền vững vào chuỗi giá trị lúa gạo.
Ông Trần Thanh Hiệp, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, cho rằng tại một số mô hình thí điểm, các vùng sản xuất tập trung đã hình thành song số doanh nghiệp đầu tư bài bản, gắn bó lâu dài vẫn còn hạn chế, khiến việc liên kết chuỗi chưa phát huy hết tiềm năng. Vì vậy, thể chế và cơ chế, chính sách liên quan cần tiếp tục được hoàn thiện để tạo động lực cho doanh nghiệp đầu tư lâu dài vào vùng nguyên liệu.
Nhu cầu tín dụng 83.000 tỉ đồng
Theo bà Nguyễn Thị Hoàng Yến, Phó Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, đến nay, Đề án 1 triệu ha lúa đã xác định hơn 942.000 ha vùng chuyên canh, thu hút trên 1.230 HTX, tổ hợp tác và 210 doanh nghiệp tham gia; tổng nhu cầu tín dụng để liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ ước tính khoảng 83.000 tỉ đồng.
Đề án cũng đã khởi động nền tảng số dùng chung nhằm định danh vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc, theo dõi tín dụng...; đồng thời thí điểm bảo hiểm nông nghiệp và tín dụng xanh tại nhiều địa bàn.

Bình luận (0)