Việc được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý, lãnh đạo sau thời gian làm việc, cống hiến chắc hẳn là mong muốn có rất nhiều công chức. Dưới đây là quy định về điều kiện, thời hạn bổ nhiệm công chức giữ chức vụ quản lý, lãnh đạo.

Điều kiện được bổ nhiệm

Khoản 5 Điều 7 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 nêu rõ: Bổ nhiệm là việc cán bộ, công chức được quyết định giữ một chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc một ngạch theo quy định của pháp luật.

Điều kiện, thời hạn công chức được bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo  - Ảnh 1.

Để được bổ nhiệm, tuổi công chức phải đủ một nhiệm kỳ

Theo đó, Điều 51 Luật này quy định, căn cứ để bổ nhiệm công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý là: Nhu cầu, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị; Tiêu chuẩn, điều kiện của chức vụ lãnh đạo, quản lý.

Để hướng dẫn chi tiết quy định này, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 138/2020/NĐ-CP. Trong đó, Điều 42 Nghị định này nêu rõ, tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm công chức giữ chức vụ quản lý, lãnh đạo gồm:

- Bảo đảm tiêu chuẩn chung, tiêu chuẩn chức danh và tiêu chuẩn cụ thể của chức vụ bổ nhiệm.

- Phải được quy hoạch chức vụ bổ nhiệm nếu là nguồn nhân sự tại chỗ hoặc được quy hoạch chức vụ tương đương nếu là nguồn nhân sự từ nơi khác.

- Có hồ sơ, lý lịch cá nhân được xác minh, có bản kê khai tài sản, thu nhập.

- Đáp ứng điều kiện về độ tuổi được bổ nhiệm:

Được đề nghị bổ nhiệm lần đầu hoặc đề nghị bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý cao hơn thì tuổi bổ nhiệm: Phải còn đủ 5 năm công tác tính từ khi thực hiện quy trình bổ nhiệm; trường hợp đặc biệt báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định; Được bổ nhiệm vào chức vụ mà thời hạn mỗi lần bổ nhiệm của chức vụ đó là dưới 5 năm: Tuổi bổ nhiệm phải đủ một nhiệm kỳ; Công chức được điều động, bổ nhiệm giữ chức vụ mới tương đương hoặc thấp hơn chức vụ đang giữ: Không tính tuổi bổ nhiệm theo quy định trên.

- Có đủ sức khoẻ để hoàn thành nhiệm vụ và chức trách được giao.

- Không thuộc các trường hợp bị cấm đảm nhiệm chức vụ của Đảng và của pháp luật; không đang trong thời hạn xử lý kỷ luật, không trong thời gian thực hiện các quy định liên quan đến kỷ luật.

Theo quy định mới, công chức để được bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo phải đáp ứng đầy đủ 6 yêu cầu nêu trên - bổ sung thêm một yêu cầu so với quy định trước đây tại Nghị định 24 năm 2010 (trước đây chỉ yêu cầu 5 điều kiện).

Thời hạn nhiệm kỳ

Khoản 2 Điều 51 Luật Cán bộ công chức nêu rõ: Thời hạn bổ nhiệm công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý là 5 năm; khi hết thời hạn, cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền phải xem xét bổ nhiệm lại hoặc không bổ nhiệm lại.

Điều kiện, thời hạn công chức được bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo  - Ảnh 2.

Theo quy định hiện hành, công chức chỉ được bổ nhiệm không quá 2 nhiệm kỳ liên tiếp và mỗi lần bổ nhiệm chỉ trong thời hạn không quá 5 năm

Theo quy định này, công chức được bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý trong thời hạn 5 năm. Khi hết thời hạn này, công chức có thể được xem xét bổ nhiệm lại hoặc không bổ nhiệm lại.

Nhưng nếu pháp luật chuyên ngành và cơ quan có thẩm quyền có quy định khác thì thực hiện theo quy định đó.

Đồng thời, Điều 41 Nghị định 138 nêu rõ:

1. Thời hạn giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý cho mỗi lần bổ nhiệm là 5 năm, tính từ thời điểm quyết định bổ nhiệm có hiệu lực, trừ trường hợp thời hạn dưới 5 năm theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

2. Thời hạn giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý không được quá hai nhiệm kỳ liên tiếp được thực hiện theo quy định của Đảng và pháp luật chuyên ngành.

Trước đây, theo quy định của Điều 5 Quyết định 27/2003/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ chỉ quy định: Thời hạn mỗi lần bổ nhiệm là 5 năm; đối với một số cơ quan, đơn vị đặc thù có thể quy định thời hạn mỗi lần bổ nhiệm ngắn hơn

Như vậy, theo quy định hiện hành, công chức chỉ được bổ nhiệm không quá 2 nhiệm kỳ liên tiếp và mỗi lần bổ nhiệm chỉ trong thời hạn không quá 5 năm. Nếu pháp luật chuyên ngành quy định về thời hạn dưới 5 năm thì thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

H.Lê