Lao động phổ thông là nhóm có tỉ lệ nghỉ việc cao. Ảnh: Vĩnh Tùng
Hơn một tháng nay, chị Nguyễn Thu Nhi đã chính thức nghỉ việc tại một công ty may ở KCN Tân Thới Hiệp (quận 12-TPHCM). Giờ đây, thay cho việc tất bật đến công ty làm việc vào mỗi sáng, chị dành thời gian chăm sóc đứa con hơn 2 tuổi của mình.

Lương thấp, sống không nổi

Chị Nhi cho biết do thu nhập thấp, cộng với áp lực tăng ca thường xuyên đã khiến cho chị không còn đủ sức để chăm sóc cho gia đình. “Sáng nào tôi cũng phải đi làm sớm nên không kịp cho con ăn. Mỗi khi tăng ca, về trễ, chồng luôn càu nhàu vì không quan tâm đến gia đình. Chưa kể những lúc con ốm đau, tôi lại không có thời gian chăm sóc”. Thấy con ngày một xanh xao nên chị quyết định nghỉ việc ở nhà trông con. Một mình chồng chị chạy vạy lo toan cho cả gia đình nên cũng khó khăn nhưng dù sao thì cũng còn thu vén được.

Khi đứa con đầu lòng chào đời cũng là lúc chị Nguyễn Thị Linh (quận Thủ Đức- TPHCM) kết thúc quãng đời làm công nhân mà chị gắn bó suốt gần 10 năm qua. Chị tâm sự: “Nếu đi làm, tôi phải gửi con vào nhà trẻ với chi phí hơn 1 triệu đồng/tháng. Ngoài ra, tôi còn phải lo tiền sữa, tiền thuê nhà, ăn uống cùng những chi phí sinh hoạt khác trong khi đồng lương công nhân không đủ trang trải”. Chị quyết định nghỉ việc ở nhà giữ con và nhận gia công hàng cho các cơ sở để kiếm thêm thu nhập.

Biến động không theo quy luật

Kết quả khảo sát lương Việt Nam tiến hành trên 329 doanh nghiệp do Mercer và Talennet vừa công bố cho thấy trong 6 tháng đầu năm 2011, tỉ lệ lao động nghỉ việc là 8,8% trong khi cả năm 2010 chỉ là 15,6%. Đáng nói là thông thường, tỉ lệ lao động nghỉ việc chỉ tập trung vào thời điểm cuối năm, còn những tháng đầu năm, lao động ít biến động. Trong đó, nhóm nhân viên bán hàng nghỉ việc nhiều nhất; tiếp đến là nhóm lao động phổ thông.

Bà Nguyễn Thị Liên, Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Quốc tế Phong Phú, cho biết nếu như những năm trước, tỉ lệ lao động của doanh nghiệp chỉ biến động khoảng 10% thì hiện nay đã lên đến 15%. “Thường lao động nghỉ việc rơi vào lao động nữ, nhập cư, nhất là lúc sau khi họ sinh con. Do không có chỗ gửi con nhỏ, mọi chi phí lại gia tăng mà tiền lương không đủ trang trải nên họ thường trở về quê sống tạm, khi nào con lớn thì trở lại làm việc”. Tình trạng này không chỉ của riêng Phong Phú mà đã trở nên phổ biến hiện nay.

Thiếu chính sách thu hút

Tại hội thảo “Nhà ở cho công nhân, thực trạng và giải pháp” do Bộ Xây dựng và Tổng LĐLĐ Việt Nam vừa tổ chức cho thấy hiện nay có khoảng 1,6 triệu công nhân đang làm việc tại các KCN của cả nước nhưng chỉ 20% có chỗ ở ổn định. Số còn lại phải thuê mướn chỗ ở tạm bợ. Còn tại hội thảo “Nguồn nhân lực phục vụ cho sự phát triển KCX-KCN TP” đưa ra thực tế: Tại TPHCM, tính từ đầu năm 2006 đến nay, TP chỉ mới xây dựng 7 khu nhà lưu trú với 6.058 chỗ ở, đáp ứng 3,3% nhu cầu chỗ trọ cho công nhân. So với các tỉnh lân cận như Bình Dương, Đồng Nai thì tỉ lệ nhà ở cho công nhân ở TPHCM thấp hơn rất nhiều (Bình Dương là 12,59%; Đồng Nai là 8%).

Theo PGS-TS Trần Văn Thiện, Viện Nghiên cứu Phát triển Nhân lực – Trường Đại học Kinh tế TPHCM, còn trên 90% lao động phải tự xoay xở chỗ ở trong những khu nhà trọ chật hẹp, tạm bợ, không bảo đảm an ninh. Ngoài ra, thu nhập của người lao động thấp do hầu hết là lao động giản đơn mà lại phải trả nhiều chi phí trong sinh hoạt, ăn ở trong khi chi phí này tăng quá nhanh làm cho đời sống vật chất lẫn tinh thần của người lao động luôn nghèo nàn. Mặt khác, các KCX-KCN TP khi xây dựng lại không gắn với việc giải quyết các vấn đề phúc lợi xã hội như nhà ở, văn hóa, vui chơi, giải trí... nên không hấp dẫn người lao động.

PGS-TS Trần Văn Thiện cho rằng cần tạo điều kiện cho lao động đến TPHCM làm việc, nhất là lao động chất lượng cao. Bên cạnh đó, các vấn đề liên quan như nhà trẻ, trường học, bệnh viện... cần phải được quy hoạch cạnh KCX-KCN TP để đáp ứng yêu cầu thiết thân của người lao động, giúp họ ổn định cuộc sống, an tâm làm việc.

Huỳnh Nga