Với những nguyên vật liệu sẵn có từ núi rừng, qua nhiều đời tích lũy, đồng bào đã cho ra đời những dụng cụ phục vụ cho nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng hết sức hiệu quả. Nếu tính đầy đủ, người M’nông có đến 17 dụng cụ khác nhau, nhưng quan trọng nhất là dây buộc voi bằng da trâu (brăt bung).
 
Các dụng cụ đều được phối hợp sử dụng một cách nhịp nhàng, ăn ý, hỗ trợ nhau tạo ra hiệu quả cao cho người thợ săn. Trong bộ dụng cụ ấy, dây brăt bung là quan trọng nhất. Nó được chuẩn bị rất kỳ công, thường là vài năm trước khi được sử dụng để săn bắt voi rừng.
 
Mỗi khi "ăn trâu" trong các lễ hội lớn như lễ cưới, lễ mừng mùa, lễ mừng nhà mới...người M’nông để dành lại bộ da trâu. Sau khi phơi khô vài nắng, người ta dùng con dao thật bén để cắt vòng quanh miếng da trâu, biến nó thành một sợi dây dài từ 50 đến 80m. Sợi dây da trâu được căng ra cho thẳng và xe xoay về một bên theo chiều tay phải.
 
Khi da trâu đã được xe tròn, người ta kéo căng ra phơi nắng cho thật khô rồi để dành. Đợi đến khi nào tích lũy đủ được từ ba bốn sợi, người ta sẽ xe chung thành một sợi thật chắc chắn.

Dây buộc voi và dùi móc điều khiển voi - dụng cụ chính của nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng.
 
Sợi dây da trâu dùng để buộc voi nhà vào gốc cây trong quá trình chăn giữ. Về sau, để bảo đảm hơn, đồng bào thay dây da trâu bằng dây xích sắt dài cả chục mét để buộc voi. Voi chỉ quẩn quanh gốc cây ăn lá tre, cỏ cây, chuối rừng. Tuy nhiên, khi đi săn voi, đồng bào không mang theo sợi dây xích mà chỉ mang vài cuộn dây da trâu.
 
Lúc vào rừng săn voi, sợi dây được khoanh tròn đặt trên lưng voi nhà, ngay sau lưng thợ săn voi. Cuộn dây được nối với dây tròng dùng để bắt voi con.
 
Khi phát hiện voi rừng, nài voi nằm sát xuống lưng voi, tay nắm chắc dây chằng, nhanh chóng tiếp cận đàn voi. Các con voi rừng to chạy loạn, voi con chạy theo không kịp nên bị lạc đàn, bị voi thợ chặn lại. Ngay lúc ấy, thợ săn nhanh tay quăng dây brắt bung xuống đất, chờ khi nào voi con đạp chân sau vào vòng dây bung thì giật mạnh, voi con sẽ bị buộc chặt nơi chân sau.
 
Nhờ sợi dây dài nên voi rừng càng chạy càng bị vướng và tự trói mình vào những gốc cây sau khi bị đuổi bắt kiệt sức. Voi con vừa bắt được cánh thợ săn tóm được dẫn về làng để thuần dưỡng.
 
Dụng cụ săn bắt voi là tài sản quí giá của mỗi gia đình, được cất giữ cẩn thận và luôn tu bổ, sắm sửa thêm sau mỗi mùa săn voi. Đồng bào M’nông thường tiến hành các lễ nghi cúng các công cụ mỗi khi sử dụng để cầu mong sự phù hộ của thần linh trong chinh phục các con voi hoang dã. Ngày nay, nghề săn voi rừng không còn nữa, đồng bào chỉ sản xuất và sử dụng những công cụ chăn nuôi, thuần dưỡng voi nhà.
 
Dây bắt voi và những dụng cụ khác nói lên chứng tích, kể lại câu chuyện của các gru săn voi một đời gắn bó với rừng thiêng làm nên những huyền thoại, truyền thuyết Tây Nguyên. Những chủ voi ở Buôn Đôn đều sở hữu bộ dụng cụ thể hiện nghề săn bắt voi “cha truyền con nối”.
 
Ama Kông, vua săn voi nổi tiếng khi rời bỏ nghề cũng đã trao lại bộ dụng cụ săn bắt voi rừng cho con trai là Khăm Phết Lào. Người con trai này đã trưng bày nó tại nơi trang trọng nhất của gia đình như kỷ vật và hiện vật bảo tàng về “vua voi” Ama Kông, trong đó cuộn dây brắt bung là bảo vật gia đình được khách quan tâm nhiều nhất.
 
Trong những năm gần đây, các bảo tàng lớn trong nước như Bảo tàng Dân tộc học, Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam và Bảo tàng Đắk Lắk, cũng như một số khu du lịch ở Buôn Đôn cũng mua lại bộ dụng cụ săn bắt voi, trong đó có bộ dây da trâu quý hiếm để trưng bày, giới thiệu khách tham quan tìm hiểu về nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng.
 
Theo Tấn Vịnh (Đắk Lắk Online)