Nội lực ở đây theo cách nghĩ của chúng tôi là nền tảng lý thuyết, nền tảng phương pháp luận cũng như những kỹ thuật, kỹ năng, kinh nghiệm nghiên cứu về một lĩnh vực nào đó của nhà nghiên cứu dù là trẻ hay không trẻ. Câu hỏi đặt ra là, nội lực nghiên cứu ấy tại sao lại yếu nơi những nhà nghiên cứu trẻ?
Một điều dễ nhận thấy là nội lực nghiên cứu ấy không tự nhiên đến mà nó là kết quả của những nỗ lực tự thân của nhà nghiên cứu cộng với những trang bị là họ nhận được từ cơ sở, trường học mà họ được đào tạo. Nói về tinh thần tự đào tạo của thanh niên nói chung và sinh viên nói riêng, theo thiển ý của chúng tôi, không phải là không có bởi vì những thanh niên “chịu” và muốn nghiên cứu khoa học thì ít nhiều đều có tinh thần tự học, tự đào tạo. Vấn đề hiện nay là chúng ta chưa có những phương diện cần thiết để giúp những người có tin thần tự học phát triển. Đây có lẽ là một trong những lý do quan trọng khiến cho nội lực của nhà nghiên cứu trẻ khó trở nên “thâm hậu”.
Nhưng bên cạnh đó, việc nhà nghiên cứu trẻ chưa thể trang bị được cho mình phương pháp nghiên cứu khoa học, chưa tích lũy đầy đủ các kiến thức và lý luận căn bản của ngành khoa học mà mình nghiên cứu, chưa biết phạm vi và những vấn đề nghiên cứu chính mà ngành và thực tiễn đặt ra cho một nhà nghiên cứu... còn có mối quan hệ chặt chẽ với nền đào tạo mà họ đã thụ hưởng. Nhìn vào thực tế đào tạo hiện nay, không khó để nhận thấy sự "lệch càng'' trong quan niệm đào tạo: đề cao thực nghiệm và xem thường lý thuyết, xem thường phương pháp luận.
Không quan tâm đến lý thuyết có thể do quan niệm. Không ít người sẵn sàng “lao mình” vào nghiên cứu một lĩnh vực nào đó mà chưa từng đọc qua bất cứ một lý thuyết nào liên quan tới lĩnh vực ấy. Theo họ, cứ lao vào nghiên cứu dần dần sẽ “ngộ” ra mà thôi”. Quả là khi lao vào nghiên cứu sẽ giúp cho bản thân có thêm nhiều kinh nghiệm nhưng có thể sẽ không giúp được gì cho khoa học cả, bởi khi nghiên cứu mà không biết trước ta đã có những thành tựu gì thì có khi ta sẽ "ngộ" ra được một điều mà thế giới đã “ngộ” trước ta hàng chục năm rồi (tất nhiên là ngoại trừ những nghiên cứu lặp lại để kiểm tra kết quả của những nghiên cứu có trước). Bên cạnh đó xem thường lý thuyết cũng có thể do sự bất lực về lý thuyết, về nền tảng phương pháp luận của chính những người nắm giữ trọng trách đào tạo. Đây là điều hoàn toàn có thể không định được khi biết rằng hiện tượng “dạy sô” là một hiện tượng khá phổ biến hiện nay. Mà dạy theo kiểu chạy sô chắc chắn sẽ dẫn tới hậu quả người dạy không có đủ thời gian và sức lực để nghiên cứu, và khi không nghiên cứu thì họ không thể truyền đạt đầy đủ những quan điểm lý thuyết mới và lưỡng tính liên ngành cho người học.
Hệ quả là trong phần lớn những nghiên cứu của sinh viên mới riêng và trẻ nói chung, phần kém nhất có lẽ là phần trình bày những lý thuyết, cơ sở phương pháp luận đã được áp dụng, những khám phá đã được phát hiện cũng như những hạn chế mà những nghiên cứu trước đó đã để lại. Rồi họ cũng rất giỏi trong việc thu thập số liệu nhìn ra hàng loạt mối quan hệ tương quan nhưng lại “bất lực” trong việc lý giải, bình luận những số liệu đó nên kết quả nghiên cứu không thể công bố trên các tạp chí khoa học, không đóng góp được gì nhiều cho lĩnh vực khoa học được nghiên cứu.
Bình luận (0)