Với mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số, Việt Nam cần xác định rõ bản chất của tăng trưởng, đồng thời kiên định bám sát các nguyên tắc cốt lõi nhưng nên vận dụng linh hoạt sát thực tiễn
Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số đòi hỏi kiên trì, bền vững và thực chất, không chấp nhận tăng trưởng thấp, trong đó bám sát 4 nguyên tắc cốt lõi gồm: tăng trưởng thực chất; ổn định vĩ mô; sử dụng nguồn lực hiệu quả, đặc biệt theo hình thức hợp tác công tư (PPP); công bằng xã hội. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, cần nhìn rõ những thách thức hiện hữu.
Sức mạnh kinh tế cần thể hiện sự tương xứng
Ông Phạm Văn Xô, Chủ tịch Hiệp hội Xuất nhập khẩu TP HCM, cho rằng mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số của Việt Nam trong bối cảnh hiện nay là thách thức lớn, nhất là khi doanh nghiệp (DN) đang phải đối mặt đồng thời nhiều áp lực từ bên ngoài lẫn nội tại. Biến động địa chính trị, chi phí logistics, tỉ giá USD tăng mạnh và lãi suất đi lên đang trực tiếp làm gia tăng chi phí sản xuất, thu hẹp dư địa tài chính và khiến DN thận trọng hơn trong đầu tư.
Một trong những giải pháp quan trọng là giảm phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu bằng cách tận dụng tối đa nguồn cung trong nước, qua đó hạn chế rủi ro từ biến động toàn cầu. Đồng thời, DN buộc phải siết chặt quản trị dòng tiền, đặc biệt là vốn vay, nhằm tránh phát sinh chi phí tài chính không cần thiết. Trong bối cảnh tỉ giá biến động, dù gây áp lực chi phí nhưng cũng mở ra cơ hội nhất định cho DN xuất khẩu khi nguồn thu ngoại tệ có thể bù đắp phần nào chi phí đầu vào và tạo lợi thế cạnh tranh giá. Tuy vậy, khó khăn lớn vẫn là khả năng tiếp cận vốn khi lãi suất tăng và điều kiện vay chặt chẽ hơn.

Mở rộng thị trường xuất khẩu là một trong những khâu cốt lõi để đạt tăng trưởng cao. Ảnh: HOÀNG TRIỀU
TS Nguyễn Nhật Minh, Khoa Kinh doanh - Đại học RMIT Việt Nam, cho hay cần xác định rõ về tăng trưởng thực chất, có thể dựa trên 5 đặc điểm, đó là đi cùng năng suất chứ không chỉ với vốn; tạo ra giá trị gia tăng nội địa cao hơn; nâng được năng lực cạnh tranh dài hạn như công nghệ, thể chế và kỹ năng; giữ được ổn định vĩ mô và sức chống chịu; đồng thời chuyển hóa thành phúc lợi thực cho người dân.
Nhìn vào Việt Nam hiện nay sẽ thấy vì sao chỉ tăng GDP là chưa đủ. Năm 2025, năng suất lao động tăng 6,88%, tích cực nhưng vẫn thấp hơn mục tiêu 8,5% của năm 2026. Điều này cho thấy nếu GDP tăng 2 con số mà năng suất không theo kịp, nền kinh tế vẫn chủ yếu lớn lên theo chiều rộng. Tương tự, Việt Nam xuất khẩu rất lớn nhưng ở nhiều ngành chủ lực, nhất là điện tử, phần giá trị nội địa vẫn còn mỏng. Nghĩa là kim ngạch có thể tăng nhanh nhưng sức mạnh thực của nền kinh tế chưa chắc tăng tương xứng.
Đồng hồ đo chất lượng tăng trưởng
Theo TS Nguyễn Nhật Minh, bên cạnh GDP, Việt Nam cần một "bảng đồng hồ đo chất lượng tăng trưởng" để phản ánh đầy đủ sức khỏe nền kinh tế. Trọng tâm không chỉ là tốc độ mà là năng suất, hiệu quả sử dụng vốn, thu nhập thực và mức độ lan tỏa giá trị. Tăng trưởng bền vững đòi hỏi nâng cao giá trị gia tăng nội địa, giúp DN tham gia sâu hơn vào các khâu có giá trị cao, đồng thời thúc đẩy đổi mới sáng tạo và năng lực công nghệ. Ổn định vĩ mô và sức chống chịu cần được đặt ở vị trí trung tâm, với các chỉ số như lạm phát, chất lượng tín dụng, dự trữ ngoại hối và nợ xấu được nhìn trong tổng thể. Hiệu quả phân bổ nguồn lực, nhất là đầu tư công và PPP, phải dựa trên tác động thực đến năng suất khu vực tư nhân.
Đồng thời, công bằng xã hội và phát triển con người cũng là thước đo quan trọng của chất lượng tăng trưởng. Yếu tố tăng trưởng xanh ngày càng cấp thiết. Nếu GDP tăng nhanh nhưng đi kèm cường độ carbon cao và tiêu hao năng lượng lớn, chi phí dài hạn sẽ rất lớn. Do đó, cần theo dõi chặt các chỉ số về năng lượng sạch và rủi ro khí hậu. Trong bối cảnh theo đuổi tăng trưởng cao, Việt Nam cần giữ "hành lang an toàn vĩ mô" với 3 ranh giới: lạm phát, nợ công và đòn bẩy tín dụng.
"Nếu tăng trưởng dựa vào năng suất và cải cách, áp lực có thể kiểm soát; ngược lại, phụ thuộc tín dụng và bội chi sẽ làm gia tăng rủi ro hệ thống. Ba chỉ báo then chốt cần quan tâm hiện nay là lạm phát cơ bản gắn với tỉ giá, nghĩa vụ trả nợ trên thu ngân sách và tín dụng vào khu vực rủi ro. Với PPP, cần chuyển từ huy động vốn sang đồng tạo giá trị công, bảo đảm minh bạch và bền vững" - TS Nguyễn Nhật Minh chia sẻ.
Góp ý về giải pháp đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số, bám sát 4 nguyên tắc cốt lõi, ông Phạm Văn Xô cho rằng gồm có 2 yếu tố then chốt. Thứ nhất là hoàn thiện thể chế, tháo gỡ các rào cản pháp lý nhằm tạo môi trường thông thoáng cho DN hoạt động. Nếu vướng mắc pháp lý không được xử lý, mọi nỗ lực của DN đều có thể bị đình trệ. Thứ hai là bảo đảm ổn định nguồn cung nguyên liệu chiến lược, đặc biệt là xăng dầu, nhằm kiểm soát chi phí đầu vào và giữ ổn định mặt bằng giá. Bên cạnh đó, Việt Nam cần tận dụng tốt các hiệp định thương mại tự do (FTA) đã ký kết để mở rộng thị trường xuất khẩu, đồng thời phát huy lợi thế lao động khéo léo, phù hợp với các ngành có giá trị gia tăng cao. Trong dài hạn, cần định hướng thu hút đầu tư và phát triển các ngành công nghệ cao, kỹ thuật cao, từng bước sàng lọc những ngành có giá trị thấp.
Tăng trưởng 2 con số không chỉ phụ thuộc vào chính sách vĩ mô mà còn nằm ở khả năng thích ứng và nâng cấp của DN. Khi môi trường kinh doanh được cải thiện, chi phí đầu vào được kiểm soát và nguồn lực được phân bổ hiệu quả, mục tiêu tăng trưởng cao mới có thể đạt được một cách bền vững.
Triển khai đồng thời giải pháp ngắn hạn và dài hạn
PGS-TS Trần Hoàng Ngân (đại biểu Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Tư vấn Trường ĐH Sài Gòn) cho hay để đạt được tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, cần triển khai đồng thời các giải pháp ngắn hạn và dài hạn.
Về ngắn hạn, trọng tâm là ổn định thị trường, đặc biệt với năng lượng và xăng dầu, thông qua đa dạng nguồn cung, điều tiết phân phối và sử dụng chính sách tài khóa để giảm áp lực giá. Bên cạnh đó là kiểm soát buôn lậu, đầu cơ, tích trữ và triển khai các chính sách an sinh xã hội như tăng lương, trợ cấp nhằm kích cầu tiêu dùng trong nước trong bối cảnh xuất khẩu gặp khó. Còn về dài hạn, nền kinh tế cần đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển năng lượng tái tạo và tái cơ cấu theo hướng nâng cao giá trị gia tăng. Chính sách tài khóa được xác định theo hướng mở rộng có kiểm soát, tận dụng dư địa nợ công còn thấp để tăng đầu tư công, nhất là vào hạ tầng giao thông, năng lượng và công nghệ, qua đó giảm chi phí logistics và hỗ trợ DN.
Trong khi đó, chính sách tiền tệ cần được điều hành linh hoạt, đa mục tiêu, vừa kiểm soát lạm phát vừa hỗ trợ tăng trưởng và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính. Trọng tâm trước mắt là giữ thanh khoản, ổn định thị trường tiền tệ và kiểm soát lãi suất, tránh lặp lại những cú sốc trong quá khứ. "Nhìn chung, tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn hiện nay không chỉ phụ thuộc vào tốc độ mà còn đòi hỏi khả năng điều hành chính sách linh hoạt, phối hợp hiệu quả giữa tài khóa và tiền tệ, cùng với việc nâng cao nội lực để thích ứng với biến động toàn cầu" - PGS-TS Trần Hoàng Ngân nhận định.
(Còn tiếp)
(*) Xem Báo Người Lao Động từ số ra ngày 27-3
Bình luận (0)