Sáu tháng đầu năm 2010, lạm phát đã xuống dưới 9%/năm. Lãi suất tiết kiệm không có lý do gì  không xuống 11%/năm, cao hơn lạm phát 2%, bảo đảm lợi ích cho người gửi tiền. Thế nhưng, các NH vẫn còn nhìn nhau, chưa hạ nhanh lãi suất. Thị trường lấp ló hiện tượng lãi suất tiết kiệm của kỳ hạn 2 - 12 tháng đều ở mức 11,2%/năm. Đây là một nghịch lý tiếp tục tồn tại bởi lãi suất kỳ hạn ngắn với kỳ hạn dài, giữa NH lớn với NH nhỏ không thể cào bằng. Nguyên nhân sâu xa là quy mô hoạt động, tiềm lực tài chính giữa các NH quá chênh lệch. Khi đã lỡ cho vay, đồng thời không huy động được vốn, khiến lượng tiền ra vào mất cân đối, NH nhỏ sẽ biến tướng lãi suất tiết kiệm làm rối loạn thị trường như năm 2008-2009. NH Nhà nước không thể thường xuyên bơm tiền cho các NH nhỏ, bởi như thế sẽ nảy sinh tiền lệ, tạo cho NH tâm lý ỷ lại, có thể làm dư luận xã hội bất bình.
 
Cái gốc của lãi suất là cơ quan quản lý phải khám “sức khỏe” các tổ chức tín dụng, sắp xếp lại hệ thống NH theo hướng sáp nhập, giải thể. Pháp luật đã quy định năm 2010 mức vốn tối thiểu của một NH là 3.000 tỉ đồng. NH Nhà nước cũng đã ban hành quy chế sáp nhập, giải thể. Vì thế, NH nào không đủ điều kiện nên “tự giác” xóa tên trên bản đồ kinh doanh tiền tệ, còn hơn để pháp luật can thiệp.
 
Có ý kiến cho rằng các NH đã dày công xây dựng thương hiệu nên không muốn mua - bán, sáp nhập. Việc NH bắt tay nhau để tăng sức mạnh không dễ thực hiện vì liên quan đến nhiều yếu tố kỹ thuật. Tuy nhiên, nếu các NH biết người biết ta thì việc hợp sức với nhau không khó, giải quyết dứt điểm tình trạng “sức khỏe” kém, ảnh hưởng không tốt đến thị trường tiền tệ.
 

Thực tế cho thấy chỉ có những NH mạnh vốn, mạng lưới kinh doanh rộng khắp, năng lực quản trị, điều hành tốt, độ tin cậy cao... mới huy động được nhiều nguồn vốn, góp phần ổn định lãi suất.

_Thy Thơ