Dự thảo Thông tư về tuyển sinh và đào tạo sau đại học mà Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT) vừa công bố có nhiều điểm tích cực, nhất là khi khẳng định nguyên tắc tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình; đào tạo tiến sĩ theo hình thức chính quy, dự thảo còn quy định về việc công bố khoa học, phản biện độc lập, công khai luận án, lưu trữ dữ liệu và hậu kiểm.
Xác lập rõ những nguyên tắc tối thiểu không được hạ thấp
Đây là những nội dung cần thiết để nâng chất lượng đào tạo tiến sĩ trong bối cảnh xã hội còn băn khoăn về một số luận án, một số quy trình bảo vệ và trách nhiệm của các bên liên quan.
Với tính chất là văn bản khung, thông tư không nên đi vào quá nhiều thủ tục chi tiết, song cần xác lập rõ những nguyên tắc tối thiểu không được hạ thấp. Tự chủ của cơ sở đào tạo là cần thiết, vì mỗi ngành, mỗi lĩnh vực có đặc thù riêng. Nhưng tự chủ trong đào tạo tiến sĩ không thể chỉ dựa vào niềm tin mà còn phải đi kèm chuẩn sàn, dữ liệu truy vết và trách nhiệm giải trình. Nếu khung quá rộng, các cơ sở đào tạo có thể quy định khác nhau quá xa, tạo ra khoảng trống trong kiểm soát chất lượng.

Đại học Kinh tế Quốc dân vinh danh các tiến sĩ có thành tích nghiên cứu xuất sắc năm 2025. Ảnh: Diệu Linh
Trước hết, ở khâu tuyển sinh, dự thảo đã giao cơ sở đào tạo quy định cụ thể yêu cầu đầu vào và phương thức tuyển nghiên cứu sinh. Cách tiếp cận này phù hợp với tinh thần tự chủ. Tuy nhiên, thông tư nên nêu một số thành tố tối thiểu của năng lực nghiên cứu cần được đánh giá, chẳng hạn: định hướng hoặc đề cương nghiên cứu, minh chứng về năng lực học thuật, năng lực ngoại ngữ phục vụ nghiên cứu, phỏng vấn chuyên môn có lưu hồ sơ và cam kết về thời gian tham gia đào tạo.
Các trường vẫn được quyết định cách đánh giá nhưng không nên để việc tuyển sinh tiến sĩ chỉ còn là xét văn bằng và hồ sơ hành chính. Dự thảo cho phép cơ sở đào tạo quyết định phương thức thi tuyển, xét tuyển hoặc kết hợp. Vì vậy, cần có khung tối thiểu để bảo đảm việc đánh giá "năng lực nghiên cứu" không bị hiểu quá lỏng.
Về quá trình đào tạo, dự thảo đã quy định đào tạo tiến sĩ là chính quy và toàn thời gian. Đây là điểm rất đúng nhưng thông tư nên bổ sung yêu cầu khung về minh chứng quá trình nghiên cứu, không nhất thiết quy định biểu mẫu hay tần suất cứng. Ví dụ, cơ sở đào tạo phải có cơ chế theo dõi tiến độ, sinh hoạt học thuật, seminar, góp ý chuyên môn, lưu trữ dữ liệu nghiên cứu và các lần chỉnh sửa quan trọng của luận án. Như vậy, Bộ GD-ĐT không can thiệp vào quy trình nội bộ của trường nhưng vẫn bảo đảm khi hậu kiểm có thể nhận thấy nghiên cứu sinh đã được đào tạo và giám sát như thế nào.
Về công bố khoa học, yêu cầu công bố là cần thiết nhưng không nên biến thành kiểu đếm bài. Thông tư nên đặt nguyên tắc khung: công bố được sử dụng để đáp ứng yêu cầu luận án phải liên quan trực tiếp nội dung nghiên cứu, có xác định đóng góp của nghiên cứu sinh, tuân thủ liêm chính học thuật và không thuộc các nguồn bị cảnh báo hoặc không còn đáp ứng chuẩn tại thời điểm xét. Còn danh mục, cách quy đổi, đặc thù từng ngành có thể giao cho cơ sở đào tạo quy định. Cách này vừa giữ được tính khung vừa tránh tình trạng chạy theo số lượng công bố mà bỏ qua chất lượng và đóng góp thực chất.
Giữ tầng phản biện học thuật
Về phản biện độc lập, không nên xem đây chỉ là thủ tục làm chậm tiến độ hoặc tăng chi phí cho nghiên cứu sinh. Nghiên cứu sinh là người đang học làm nghiên cứu; được nhà khoa học độc lập đọc, chất vấn, chỉ ra điểm yếu và góp ý hoàn thiện là một phần của quá trình trưởng thành học thuật. Vì vậy, những thủ tục hành chính rườm rà rất nên cắt bỏ, song tầng phản biện học thuật cần được giữ.
Dự thảo đã quy định phản biện độc lập bằng 2 nhà khoa học hoặc chuyên gia ngoài cơ sở đào tạo và giao cơ sở đào tạo quy định quy trình lựa chọn, gửi nhận, xử lý, lưu trữ ý kiến phản biện. Điều nên cân nhắc là cơ chế miễn phản biện độc lập. Nếu miễn hoặc rút gọn, thông tư vẫn nên giữ yêu cầu tối thiểu về đánh giá độc lập toàn văn luận án, bởi bài báo tốt không đương nhiên thay thế được việc đánh giá luận án như một chỉnh thể khoa học.
Về người hướng dẫn, phản biện và thành viên hội đồng, dự thảo đã có các tiêu chí về học hàm, học vị, công bố khoa học và giới hạn số nghiên cứu sinh được hướng dẫn. Đây là điều cần thiết nhưng chưa đủ.
Thông tư với tư cách văn bản khung nên bổ sung nhóm tiêu chí tối thiểu về liêm chính học thuật, trách nhiệm nghề nghiệp, không có xung đột lợi ích và nghĩa vụ giải trình khi luận án có sai phạm. Không cần quy định chi li cách chấm điểm từng tiêu chí, song cần nêu rõ: người có tiền sử vi phạm liêm chính học thuật, bị xử lý liên quan việc hướng dẫn, phản biện, đánh giá luận án thì không được tham gia hướng dẫn, phản biện hoặc hội đồng trong thời hạn nhất định do cơ sở đào tạo quy định và công khai.
Riêng quy định cho phép một người hướng dẫn tham gia hội đồng đánh giá luận án với tư cách ủy viên nên được cân nhắc lại. Người hướng dẫn có thể tham dự buổi bảo vệ, phát biểu, giải trình hoặc cung cấp thông tin khi hội đồng yêu cầu nhưng không nên là thành viên có quyền biểu quyết. Đây không phải là phủ nhận vai trò của người hướng dẫn, mà là để bảo vệ tính độc lập của hội đồng và tránh xung đột lợi ích trong đánh giá.
Dự thảo quy định hội đồng có ít nhất 5 thành viên, tối thiểu 40% thành viên ngoài cơ sở đào tạo, đồng thời cho phép một người hướng dẫn tham gia hội đồng với tư cách ủy viên. Quy định này nên điều chỉnh theo hướng người hướng dẫn tham dự nhưng không biểu quyết.
Về chế tài, thông tư không cần liệt kê quá chi tiết mọi hình thức xử lý nhưng cần có khung trách nhiệm tối thiểu. Dự thảo đã quy định về việc kiểm tra, thẩm định, yêu cầu giải trình, khắc phục, thẩm định lại và thu hồi bằng theo quy định pháp luật nếu người học đã được cấp bằng. Đây là bước đi đúng, song nên bổ sung nguyên tắc xử lý trách nhiệm không chỉ với nghiên cứu sinh mà còn cả người hướng dẫn, phản biện, thành viên hội đồng và đơn vị chuyên môn nếu có hành vi buông lỏng, thiếu trung thực, xung đột lợi ích hoặc đánh giá hình thức.
Về công khai và hậu kiểm, dự thảo yêu cầu lưu trữ dữ liệu, công khai luận án và cập nhật dữ liệu phục vụ quản lý. Để việc này có giá trị thực chất, thông tư nên đặt khung về cơ chế tiếp nhận và xử lý phản hồi học thuật trong thời gian công khai luận án. Không cần quy định quá chi tiết ai ngồi phòng nào, biểu mẫu gì mà chỉ cần nêu nguyên tắc: có đầu mối tiếp nhận, có thời hạn xử lý, có tiêu chí xác định phản ánh đủ căn cứ, có quyền tạm dừng cấp bằng khi cần thẩm định và có lưu vết kết quả xử lý.
Khung kiểm soát chất lượng
Dự thảo thông tư không nên theo hướng "siết" bằng thủ tục hành chính mà cần đặt ra khung kiểm soát chất lượng tối thiểu. Bộ GD-ĐT không cần làm thay cơ sở đào tạo, song thông tư phải xác định những việc cơ sở đào tạo không được làm thấp hơn: tuyển sinh phải đánh giá năng lực nghiên cứu; đào tạo toàn thời gian phải có minh chứng quá trình; công bố phải gắn với luận án và liêm chính; phản biện độc lập không nên bị loại bỏ hoàn toàn; hội đồng phải độc lập; người hướng dẫn không nên có quyền biểu quyết; dữ liệu phải đủ để hậu kiểm; sai phạm phải gắn với trách nhiệm của cả chuỗi, không chỉ của nghiên cứu sinh.
Như vậy, thông tư vẫn giữ tính khung, vẫn tôn trọng tự chủ đại học nhưng không để việc tự chủ trở thành khoảng trống chất lượng.
Bình luận (0)