TPHCM là đầu tàu kinh tế của cả nước nhưng cũng đang là nơi bộc lộ rõ nhất giới hạn của mô hình quản trị cũ. Khi quy mô đô thị lớn hơn, nhu cầu đầu tư cao hơn và áp lực cạnh tranh gay gắt hơn, những vướng mắc thể chế không còn là chuyện kỹ thuật hành chính mà trở thành điểm nghẽn trực tiếp của tăng trưởng.
Nhiều điểm nghẽn
Thành phố đang theo đuổi hàng loạt mục tiêu rất lớn, như tăng trưởng 2 con số, xây dựng trung tâm tài chính quốc tế, mở rộng không gian logistics, phát triển công nghiệp công nghệ cao, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và xây dựng hệ thống đường sắt đô thị gắn với TOD.
Chỉ riêng kế hoạch phát triển mạng lưới đường sắt đô thị đã cho thấy quy mô chưa từng có: đến năm 2035, thành phố đặt mục tiêu hoàn thành 7 tuyến với khoảng 355 km; đến năm 2045 thêm 3 tuyến với khoảng 155 km. Nhu cầu vốn đến năm 2035 khoảng 1.019.370 tỉ đồng, tương đương 40,2 tỉ USD và giai đoạn 2027-2035 cần khoảng 5 tỉ USD/năm. Cơ cấu vốn cũng đã được thiết kế khá đa dạng từ ngân sách thành phố, ngân sách trung ương, nguồn lực phát triển đô thị theo TOD, BT trả chậm, trái phiếu và vay trong nước.
Những con số này cho thấy thành phố không thiếu ý tưởng phát triển, cũng không hoàn toàn thiếu nguồn lực huy động. Vấn đề cốt lõi là thiếu một cơ chế đủ linh hoạt để biến các phương án thành hiện thực.
Thực tiễn cho thấy với những dự án quy mô lớn của TP HCM, thường phải đi qua quá nhiều tầng nấc thủ tục, nhiều khâu thẩm định và nhiều hệ quy chiếu pháp luật khác nhau. Điều này dẫn đến nhiều dự án kéo dài.

Dự án Lakeview City của Novaland tại TP HCM từng được áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc theo Nghị quyết 170/2024/QH15 của Quốc hội. Ảnh: QUỐC ANH
Một ví dụ điển hình là nhà ở xã hội. Sau 2 năm triển khai cơ chế của Nghị quyết 98/2023/QH15 của Quốc hội, thành phố mới chấp thuận chủ trương đầu tư được 2 dự án với khoảng 2.143 căn hộ. Sự chậm trễ này phản ánh vướng mắc trong quy trình lựa chọn dự án, giao đất, chấp thuận chủ trương đầu tư và xử lý đồng bộ các quy định liên quan giữa đất đai, đầu tư và xây dựng.
Hạ tầng giao thông cũng gặp tình trạng tương tự. Thành phố phải đề xuất nhiều mô hình như nhà nước đầu tư hạ tầng - tư nhân phát triển TOD, hoặc hợp tác công - tư theo mô hình Rail + Property. Việc phải thiết kế cơ chế riêng cho các mô hình này cho thấy nếu vẫn dùng bộ khung thủ tục thông thường thì rất khó triển khai những dự án tích hợp đa mục tiêu có quy mô vốn rất lớn.
Ở góc độ đầu tư công, tuy đã cải thiện nhưng hiệu quả dẫn dắt chưa tương xứng. Một trong những nguyên nhân là do việc tháo gỡ đất đai, giải phóng mặt bằng và trình tự phê duyệt còn kéo dài.
Thu hút nhà đầu tư chiến lược cũng vướng một số trở ngại. TP HCM vẫn luôn hấp dẫn về quy mô thị trường, nhân lực và vị trí địa lý. Trong năm 2025, thành phố đón hơn 300 đoàn nhà đầu tư, tổ chức hàng trăm hoạt động xúc tiến. Thành phố cũng đặt mục tiêu trong năm huy động 620.000 tỉ đồng vốn xã hội. Tuy nhiên, sức hút đầu tư chưa chuyển hóa đầy đủ thành dòng vốn thực hiện, mà nguyên nhân là do thủ tục còn chậm, cơ chế lựa chọn nhà đầu tư còn cứng và chính sách chưa đủ ổn định.
Không thể phát triển bằng cơ chế cũ
Từ thực tế trên có thể khẳng định rằng nhu cầu về một đạo luật riêng như Luật Đô thị đặc biệt hoặc một khung pháp lý vượt trội dành cho TP HCM là rất cần thiết. Thành phố cần một cơ chế phân cấp mạnh hơn, rõ thẩm quyền hơn, cho phép quyết nhanh hơn và gắn trách nhiệm cụ thể hơn. Nếu không có nền tảng pháp lý như vậy thì mọi kỳ vọng tăng tốc đều sẽ bị chặn lại ngay trong quá trình thực thi.
Nguy cơ đầu tiên là mất cơ hội đầu tư. Trong môi trường cạnh tranh khu vực ngày càng gay gắt, nhà đầu tư chiến lược không chờ đợi quá lâu để một địa phương hoàn tất quy trình nội bộ. Các dự án trong lĩnh vực bán dẫn, logistics, trung tâm dữ liệu, cảng biển hay tài chính quốc tế đều có tính cạnh tranh cao về thời gian. Khi quyết định đầu tư phụ thuộc lớn vào mức độ ổn định chính sách và tốc độ xử lý thủ tục thì mọi độ trễ thể chế đều có thể khiến thành phố đánh mất những cơ hội mang tính bước ngoặt. Khi đó, thiệt hại không chỉ là một dự án riêng lẻ mà là cả chuỗi công nghệ, chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị đi kèm.
Nguy cơ thứ hai là tăng trưởng chậm lại ngay trong giai đoạn thành phố phải bứt tốc. Với quy mô GRDP năm 2025 gần 3 triệu tỉ đồng, muốn tăng trưởng 10% trong năm 2026 thì thành phố phải tạo thêm khoảng 300.000 tỉ đồng giá trị gia tăng. Đây là một áp lực rất lớn. Nếu thể chế tiếp tục vận hành theo kiểu nhiều cấp xin ý kiến, phân tán trách nhiệm và chồng chéo luật thì rất khó giải phóng đủ nhanh nguồn lực công lẫn nguồn lực tư. Tăng trưởng khi đó không giảm vì thiếu tiềm năng mà giảm vì không mở được đường cho tiềm năng đi ra.
Nguy cơ thứ ba là hạ tầng tiếp tục quá tải. Một thành phố muốn trở thành trung tâm tài chính, logistics và công nghệ của khu vực mà các tuyến giao thông chiến lược, mạng lưới metro, các khu đô thị TOD, chương trình nhà ở xã hội hay các dự án đầu tư công trọng điểm vẫn triển khai chậm thì sức tải của đô thị sẽ ngày càng yếu đi so với nhu cầu thực tế.
Nguy cơ thứ tư là chảy máu nguồn lực. Dòng vốn tốt sẽ tìm đến nơi có thể chế tốt hơn. Nhân lực chất lượng cao cũng sẽ có xu hướng ở lại hoặc dịch chuyển đến những môi trường mà sáng kiến được khuyến khích, thủ tục được rút gọn và cơ hội phát triển diễn ra nhanh hơn. Nếu TP HCM tiếp tục bị ràng buộc bởi cơ chế cũ thì tổn thất lớn nhất không chỉ nằm ở vài dự án bị chậm mà ở việc thành phố đánh mất dần vai trò dẫn dắt. Khi đầu tàu không đủ tốc độ, cả nền kinh tế cũng khó đạt vận tốc mong muốn.
Nhận diện những nguy cơ này để thấy TP HCM không thể phát triển bằng cơ chế cũ, mà cần một khung pháp lý đặc biệt tương xứng với vị thế đô thị đặc biệt.
Cần coi cải cách thể chế là hạ tầng của hạ tầng, là điều kiện của điều kiện để TP HCM đi tiếp trong chặng đường phát triển mới. Khi thể chế mở đường, nguồn lực xã hội sẽ tự tìm đến. Khi thể chế tiếp tục trói buộc, chính nó sẽ trở thành lực cản lớn nhất của tương lai.
(Còn tiếp)
(*) Xem Báo Người Lao Động từ số ra ngày 10-4
Bình luận (0)