Độ hai chục năm nay, người Hà Nội có xu hướng đón Tết thay đổi so với ngày trước. Đầu tiên là giới trẻ, rồi đến người trung niên. Người ta hẹn nhau ở các địa điểm công cộng, quanh hồ Hoàn Kiếm, Nhà thờ Lớn hay các đền chùa có cảnh trí đẹp. Chẳng cứ Tết mà ngày thường những nơi chốn đó cũng đã đông vui.
Việc ra phố đón giao thừa hay ngày đầu xuân là lẽ khá tự nhiên, nhưng trước đây thường mang tính mục đích, không phải là vì cúng bái, chọn giờ xông đất thì cũng là thăm hỏi theo công thức "mồng Một Tết cha, mồng Hai Tết mẹ, mồng Ba Tết thầy". Những năm tháng chiến tranh và bao cấp cũng khiến cho việc du xuân bị hạn chế. Đúng vậy, tôi đang nói đến việc đi chơi xuân, gần hay xa, trở thành hoạt động chủ đạo của người ở Hà Nội ngày Tết.

Đi du xuân với giới trẻ bây giờ, các bạn không dừng lại ở các không gian khuôn mẫu mà có xu hướng tạo ra các trào lưu mới. Hà Nội trở thành studio lý tưởng cho đủ thời kỳ: Tái hiện khung cảnh xưa với trào lưu "cổ phục", rồi thời tiền chiến, thời thuộc địa, thời bao cấp hoặc theo kiểu nhân vật ở thời tương lai trong các truyện tranh. Nếu thế hệ 6x-8x là "con đẻ" của những nếp sống mới mang tinh thần tập thể pha trộn với sự du nhập các trào lưu hướng ngoại thì thế hệ mới bằng các phương tiện cá nhân sẵn có, chế tạo ra kiểu cách của họ dễ hơn về mặt hình thức. Nếu thế hệ trước khoác lên mình bộ cánh truyền thống là hàm ý phục vụ cho lễ nghĩa thì giới trẻ có mục tiêu rõ ràng: mặc để chụp ảnh đăng lên các nền tảng số, nơi họ tìm đồng bạn chia sẻ thẩm mỹ đó. Có cơ man đoạn video ngắn và bức ảnh Instagram về các cuộc du xuân kiểu mới mỗi dịp Tết đến. Hà Nội như một lễ hội sáng tạo hình ảnh muôn hồng nghìn tía trong ngày xuân.
Cái nhu cầu "đi ra ngoài" này tưởng chừng là mới, thực chất đã được định hình trong tâm thức người Việt từ hàng thế kỷ trước qua những bước chân du ngoạn của tiền nhân. Người ta đã biết đến nhiều câu chuyện du xuân trong các văn bản văn hóa trung đại Việt Nam. Mô típ quen thuộc là một vị vua hay một nho sinh đi vãn cảnh mùa xuân ở một chốn hữu tình và gặp một nàng tiên. Lê Thánh Tông cùng hội Tao Đàn nhị thập bát tú du ngoạn chùa Ngọc Hồ, gặp một sư nữ, xướng họa thơ và cảm mến tài năng, đưa về cung nhưng đến cửa Đại Hưng thì nàng biến mất. Vua cho xây lầu Vọng Tiên ở đây để đánh dấu cuộc gặp gỡ, với câu thơ lưu lại trong kho tàng thơ Nôm: "Chày kinh một tiếng tan niềm tục. Hồn bướm mơ tiên lẩn sự đời". "Hồn bướm mơ tiên" đã trở thành một ẩn dụ thi ca, sau này được lấy làm tên một cuốn tiểu thuyết của Khái Hưng, mượn tình huống một cuộc gặp gỡ chốn thiền môn để nói về ẩn ức nổi loạn trong thời đại mới.
Cùng bối cảnh đất Thăng Long thời Lê, một truyện thơ là "Bích Câu kỳ ngộ" tương truyền của Vũ Quốc Trân, gắn với một địa chỉ có thực là thôn Bích Câu. Truyện thơ kể về nho sinh Tú Uyên đi hội xuân chùa Ngọc Hồ, gặp nàng tiên Giáng Kiều trong một cuộc xướng họa, mất dấu nàng cũng ở giữa đường, rồi trải qua nhiều tìm kiếm mới nên duyên. Truyện cũng cho nhân vật nhắc lại sự tích của Lê Thánh Tông: "Mười lăm năm nọ chưa lâu. Còn di tích đó là lầu Vọng Tiên".
Mấy câu thơ mang tính giai thoại trong bài họa thơ của hội Tao Đàn xuất hiện lần nữa trong một bài thơ chơi xuân khác vào thế kỷ 19 là "Chơi đài Khán Xuân", của Hồ Xuân Hương hoặc Bà Huyện Thanh Quan: "Êm ái chiều xuân tới Khán đài. Lâng lâng chẳng bợn chút trần ai".

Chưa hết, một sự tích khác cũng rất nổi tiếng là Từ Thức gặp tiên, được kể lại trong tập "Truyền kỳ mạn lục" (Nguyễn Dữ) vào thế kỷ 16. Viên quan trẻ tuổi Từ Thức sống vào thời Trần gặp tiên ở một "studio": hội hoa mẫu đơn chùa Phật Tích. Vì cứu nàng tiên vô tình làm gãy cành hoa mà chàng nên duyên, rồi theo nàng về cõi tiên. Nhớ nhà, khi trở về quê thì nơi dương thế đã trôi qua 80 năm, cảnh cũ người xưa không còn, trong khi động tiên cũng đã khép. Câu chuyện là ánh xạ của truyền thuyết Lưu Nguyễn nhập Thiên Thai, song đã được bản địa hóa với các địa danh có thực ở nhiều vùng đất nước Việt Nam.
Tất cả những địa điểm như các ngôi chùa Ngọc Hồ, Phật Tích, lầu Vọng Tiên, nếu nhìn ở góc độ hôm nay, là studio ngoài trời của giới trẻ thời trung đại. Hơn nữa, các cuộc du xuân đó lặp đi lặp lại các mô típ có tính thần tiên gợi ý một tinh thần thoát khỏi ràng buộc lễ nghĩa. Trong những câu chuyện truyền thuyết và giai thoại kia, hình như các nhân vật không mất nhiều tâm sức cho các nghi thức cúng bái, cỗ bàn ở nhà mà họ có xu hướng đi ra ngoài vãn cảnh, ngao du. Tâm trí hướng ngoại và tìm kiếm cái mới lạ khiến cho du xuân là một cái cớ để kết giao, nảy sinh tình tự.
* * *
Câu chuyện Hà Nội như một studio hình ảnh cũng từng quen thuộc với những người thế hệ 5x, nay đã vào quãng tuổi 70. Những bức ảnh nam thanh nữ tú một thuở cũng đã từng lặp đi lặp lại với phông cảnh Bờ Hồ, công viên Thống Nhất hay hội hoa xuân, những chỗ cũng giống Bích Câu hay Khán Xuân. Cho dù những thanh niên thời xây dựng xã hội chủ nghĩa đã trải qua các chương trình công nghiệp hóa nửa thế kỷ trước rồi các đợt sóng đổi mới, tưởng như đủ để các phong tục phai nhạt, làm thay đổi nhiều hành vi, nhưng tinh thần tạo hình ảnh thanh xuân thì cứ ở đó mãi.
Cái studio có tên Hà Nội hôm nay đúng là có dịp chậm lại vài nhịp vào ngày Tết, có vẻ thong dong hơn nhưng cũng lại náo nhiệt vì nhu cầu du ngoạn, bát phố hay vãn cảnh các danh lam trong hội xuân. Ngoài các địa điểm quá đỗi đại chúng như Bờ Hồ, phố Tràng Tiền thì người ta tạo ra những "truyền thống mới" như vào Hoàng thành Thăng Long để tưởng nhớ và xin lộc của 52 vị vua trong lịch sử Đại Việt đã ngự ngai vàng ở đây. Ngoài Văn Miếu vốn dĩ luôn đông đúc người trẻ đến cầu khấn điều may mắn cho đường học hành thì họ còn đi theo lộ trình của "Thăng Long tứ trấn" - bốn ngôi đền trấn bốn phương của kinh thành xưa. Cho dù khái niệm tứ trấn cũng chỉ hình thành từ giữa thế kỷ 20 nhưng khi được điển chế hóa qua sách vở và truyền thông nhà nước, đã mau chóng được cộng đồng xác lập như một bản sắc văn hóa của họ.
Vốn dĩ Tết là lúc người Việt sống với nghi lễ truyền thống một cách tự nhiên nhất, nhưng đã có một sự biến đổi, có những sự tưởng chừng biến mất nhưng tái hiện trong một hình thức khác. Có thể nói đấy là sự thăng bằng giữa "lễ" và "hội", giữa cái nghiêm cẩn của lề thói với cái phóng khoáng của nhu cầu vui chơi và bây giờ có một sự tác động của bên thứ ba, phương tiện đồ họa số, tạo ra một cái Tết nữa trên các nền tảng số và mạng xã hội.
Thế hệ cao niên dần khuất, trong khi thế hệ 6x, 7x đành tiếp cận các ngữ liệu văn hóa truyền thống ở góc độ di sản và bảo tàng. Họ sẽ đối thoại với thế hệ trẻ, Gen Z, như thế nào? Liệu rồi họ có trở thành một thế hệ kẹp giữa, tuy thích nghi tốt đấy nhưng lại mờ nhạt bản sắc, dễ bị lãng quên? Giờ người trung niên cũng chẳng kém cạnh, "sống ảo" nhưng mà thực. Người trung niên và lớn tuổi giờ cũng thích sống cảnh "hội" sau khi đã xong phần "lễ". Bên Bờ Hồ, hàng nghìn bậc cô dì chú bác chẳng kém cạnh, cũng muôn sắc màu đua chen với thế hệ trẻ. Hóa ra, chính cái studio khổng lồ mang tên Hà Nội lại trở thành một giao điểm văn hóa, nơi các thế hệ soi chiếu vào nhau qua những khung hình.
Bình luận (0)