Đăng nhập
icon Đăng ký gói bạn đọc VIP E-paper

Mộ ô dước, mộ nhà giàu

Nhóm PV VHVN

TPHCM hiện có 44 ngôi mộ cổ được xác định niên đại từ 100 năm trở lên, có danh tánh người nằm trong mộ, có những giá trị kiến trúc và lịch sử, được quy hoạch và đề nghị UBND TP quyết định công nhận di tích cấp TP.

Trên thực tế, ngoài 44 ngôi mộ này, còn rất nhiều mộ cổ vô danh nằm rải rác khắp nơi, giữ trong nó những điều bí ẩn liên quan đến văn hóa, lịch sử, khoa học cần được khám phá mà ngôi mộ vừa được khai quật mới đây ở đường Nguyễn Tri Phương là một điển hình

Ngôi mộ đôi tọa lạc trong Công viên Tao Đàn, phường Bến Thành, quận 1, được các nhà nghiên cứu xác định là mộ ông bà Lâm Tam Sư, được xây dựng vào khoảng năm 1820 trở về sau, gồm các kiến trúc: Bình phong phía chân mộ, cổng mộ, bình phong phía đầu mộ gắn liền với vòng tường bao xung quanh. Toàn bộ các kiến trúc này được xây dựng bằng hợp chất ô dước. Riêng phần mộ đôi được xây thành hình khối vuông uy nghi, mái giả ngói ống diềm chân bằng rất nghệ thuật. Gắn chặt vào chân hai ngôi mộ là hai tấm bia đá granit, chỉ đọc được một số chữ Hán: “Đại Nam. Hiển khảo trọng... Ất Mùi thu... chủ húy tự trường Lâm Tam Sư chi mộ”. “Đại Nam. Hiển tỷ... chủ Lâm nguyên thất... chi mộ”.

Giá trị lớn về nghệ thuật kiến trúc và chất liệu xây dựng

Ngôi mộ của ông Trịnh Hưng Kim, tọa lạc kề cận nhà số 241/B17 đường Nguyễn Trãi, phường Nguyễn Cư Trinh, quận 1, được xây dựng vào năm Quý Sửu 1853. Các kiến trúc ngôi mộ gồm cổng mộ, ngôi mộ, bình phong phía đầu mộ. Cổng mộ và bình phong phía đầu mộ gắn liền với vòng tường bao xung quanh... được xây dựng bằng hợp chất ô dước. Mộ lập vào cuối đông năm Quý Sửu l853. Riêng ngôi mộ được kiến trúc thành hình khối chữ nhật uy nghi, mái xuôi giả ngói ống diềm chân bằng. Ngôi mộ cổ này có giá trị về nghệ thuật kiến trúc lẫn chất liệu xây dựng.

Quần thể mộ Gò Quéo, ấp Đông, phường Bình Trưng Đông, quận 2, gồm hơn mười ngôi mộ, nhưng hiện tại hầu hết các ngôi mộ đều không có bia mộ nên không xác định được chủ nhân. Chỉ còn hai ngôi mộ kề cận nhau, hình thể uy nghi, hiện còn bia mộ. Ngôi mộ thứ nhất được xây dựng vào năm Kỷ Mão 1819, gồm các kiến trúc: bình phong phía chân mộ, ngôi mộ hình chữ nhật, bình phong phía đầu mộ, vòng tường bao xung quanh. Bình phong đầu mộ gắn liền với vòng tường bao xung quanh. Toàn bộ các kiến trúc ngôi mộ được xây dựng bằng hợp chất ô dước. Gắn chặt vào chân ngôi mộ là bia đá Non Nước khắc 24 chữ Hán: “Hoàng Việt. Hiển khảo Đồng đức công thần Phụng trực đại phu chính trị khanh, Lại bộ Tả tham tri, Triệt thanh hầu, thụy Đôn Mẫn quý công chi mộ. Gia Long Kỷ Mão niên, nhuận nguyệt cốc đán” (Mộ Đồng Đức công thần Phụng trực đại phu chính trị khanh, Lại bộ Tả tham tri, Triệt thanh hầu Phạm Quang Triệt (? - 1818) thụy Đôn Mẫn nước Hoàng Việt. Năm Gia Long Kỷ Mão (1819 - năm Gia Long thứ 18). Ngôi mộ thứ hai được xây dựng vào năm Tân Hợi 1851, gồm các kiến trúc: Cổng và bình phong phía chân mộ, ngôi mộ hình chữ nhật, bình phong phía đầu mộ, vòng tường bao quanh. Bình phong đầu mộ gắn liền với vòng tường bao quanh. Các kiến trúc ngôi mộ được xây dựng bằng hợp chất ô dước. Gắn chặt vào chân mộ là bia đá Non Nước khắc 52 chữ Hán: “Đại Nam. Hiển khảo, nguyên thụ Trung phụng đại phu, Binh bộ Tả tham tri, Bắc Ninh tuần phủ, hộ lý Ninh - Thái tổng đốc quan phòng Phạm lượng phủ, thụy Trang Khải, phủ quân chi mộ”. (Mộ Nguyên thụ Trung phụng đại phu, Binh bộ Tả tham tri, Bắc Ninh tuần phủ, hộ lý Ninh - Thái Tổng đốc quan phòng Phạm Duy Trinh (? - 1851), thụy Trang khải nước Đại Nam). Cả hai ngôi mộ cổ này gắn với quan chức triều Nguyễn, có giá trị về nghệ thuật kiến trúc và chất liệu xây dựng. Hiện quần thể mộ bị hư hại nặng do nạn đào bới tìm cổ vật và do sạt lở.

Quần thể mộ ấp Bình Thạnh tọa lạc ở số 4/13 ấp Bình Thạnh, phường Thạnh Mỹ Lợi, quận 2, gồm 13 ngôi mộ, trong đó 10 ngôi mộ hiện còn bia mộ, hầu hết được lập từ năm 1859 trở về trước...

Các ngôi mộ cổ này đều có giá trị về nghệ thuật kiến trúc và chất liệu xây dựng (hợp chất ô dước). Điều này cho thấy những ngôi mộ kiên cố xây bằng hợp chất ô dước ở những thế kỷ trước chỉ có ở những gia đình quyền cao chức trọng, giàu có, địa vị xã hội cao.

Luật ngũ hành trong hợp chất ô dước

Theo nhà nghiên cứu Thông Thanh Khánh, giảng viên thỉnh giảng ở các trường đại học tại đồng bằng sông Cửu Long và TPHCM, hội viên Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, hợp chất ô dước là một loại vật liệu đặc biệt tạo chất kết dính trong xây dựng của người Nam Bộ, bao gồm ba vật liệu chính kết hợp lại: mật đường, vôi, và cây ô dước. Cây ô dước có hai loại: ô dước giồng (còn gọi là cây Hậu phác) và ô dước sông, trong đó chỉ loại ô dước sông mới sử dụng làm vật liệu xây dựng. Các ngôi mộ cổ được xây dựng bằng vật liệu ô dước đều sử dụng một dạng hợp chất, tạm gọi là “hợp chất cổ”, gồm: Đá ong tán nhuyễn, san hô, than, cát sạn, chất kết dính. Năm chất trên có thể cảm nhận bằng mắt thường và căn cứ vào cái gọi là “hợp chất cổ truyền thống trong xây dựng của người Nam Bộ” được biểu đạt theo nguyên tắc ngũ hành tương phân và tương chi. Chất kết dính này đòi hỏi đến tính chất tam hợp: ô dước, tơ hồng và mật đường, nó biểu đạt ở dạng Mộc, theo quy luật của ngũ hành, cụ thể như sau: Kim (đá ong), Mộc (chất dính tam hợp), Thủy (san hô), Hỏa (than), Thổ (cát, sạn). Tất cả các chất này được trộn theo một quy tắc tương phân (có nghĩa là theo chiều ngược của tương sanh): Thổ, Hỏa, Thủy, Mộc, Kim.

Tuy nhiên, cho đến nay, những ý nghĩa sâu xa về sự trùng hợp giữa một loại vật liệu xây dựng sáng tạo, rất độc đáo của ông cha ta với quy luật thuận, nghịch trong ngũ hành vẫn chưa được nghiên cứu thấu đáo.

Lên đầu Top

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.

Thanh toán mua bài thành công

Chọn 1 trong 2 hình thức sau để tặng bạn bè của bạn

  • Tặng bằng link
  • Tặng bạn đọc thành viên
Gia hạn tài khoản bạn đọc VIP

Chọn phương thức thanh toán

Tài khoản bạn đọc VIP sẽ được gia hạn từ  tới

    Chọn phương thức thanh toán

    Chọn một trong số các hình thức sau

    Tôi đồng ý với điều khoản sử dụng và chính sách thanh toán của nld.com.vn

    Thông báo