Trương Ngọc Ánh trong Ngọc Viễn Đông  
Đây cũng là câu chuyện về tình yêu, số phận của những nhân vật nữ trên khắp các vùng miền đất nước Việt Nam, từng được nhà văn Nguyễn Thị Minh Ngọc khai thác trong các truyện ngắn: Trăng huyết, Thức, Thời gian, Thơ, Thực và mộng, Thuyền và Tặng phẩm.
        
Ngọc Viễn Đông vừa được vinh danh tại Liên hoan phim độc lập California (CAIFF) tại San Francisco ở hai hạng mục: Phim có bối cảnh quay đẹp nhất và Nhạc phim hay nhất. Nhà sản xuất cũng cho biết thêm, dự kiến sau thời gian ra mắt tại Việt Nam, phim sẽ được tiếp tục gửi đi tham dự liên hoan phim Amérasia tại Canada.
Chọn cách kể chuyện đi dọc trục hoành thời gian từ nhân vật Thơ – tên phim cũng đồng nghĩa với khoảng đời thơ ấu, nâng bậc dần cho đến hình ảnh người phụ nữ đứng ở phía bên kia dốc cuộc đời, rồi già nua đơn độc với những nỗi niềm truân chuyên trong những chiều thăm thẳm của cuộc sống. Và cũng bằng cách như vậy, đạo diễn trẻ Cường Ngô cũng di chuyển trục không gian đi từ đồng quê sông nước cao nguyên, vùng biển nắng gió, huyền ảo phố cổ, dừng chân ở miền núi phía Bắc và kết thúc bằng một khoảng không mòn mỏi của tuổi già không định hướng.
                                  
Rất xứng tầm với danh hiệu phim có bối cảnh quay đẹp nhất mà CAIFF đã tôn vinh, bối cảnh của Ngọc Viễn Đông không thể chê vào đâu được khi ngoài vẻ đẹp thiên tạo thì đạo diễn cũng đã biết cách sắp xếp, xử lý bố cục rất tinh tế. Không chỉ những câu chuyện mà chính bối cảnh cũng có thể làm nên sự chờ đợi cho người xem trong suốt thời lượng 120 phút phim. 
                                                                           
Hồng Ánh và Huy Khánh với Thực và Mộng
Ngô Thanh Vân và Kris Duangphung trong Trăng huyết
 
Trên cái nền của không gian đẹp và tinh tế đó là những lát cắt về cuộc sống, tình yêu và tâm tư của người phụ nữ. Nổi bật nhất trong chuỗi các nhân vật có thể kể đến hình ảnh của cô gái mồ côi miền biển của Ngô Thanh Vân trong Trăng huyết. Một chương truyện được xử lý như một bài thơ đẹp trong veo với tình yêu thương nhưng cũng đầy những mất mát và u uẩn.
  
Nhà văn Nguyễn Thị Minh  Ngọc tại buổi ra mắt phim
         
Một nỗi bi ai về tình yêu cũng ấn tượng không kém là câu chuyện của người phụ nữ “18 tuổi vào Sài Gòn học đại học còn đeo lục lạc dưới chân” nhưng mấy mươi năm sau trở về quê vẫn trong tình cảnh già nua chiếc bóng, lặng lẽ và rã rời trong khúc hát ru. Những mối tình vỡ vụn, niềm tin đầy vơi và mất hút. Mong ước có được ngày mặc áo cô dâu trở thành tro tàn như chiếc áo cưới bị chính cô đốt cháy trôi dập dềnh trên biển. Tham gia vai diễn này, nhà văn Nguyễn Thị Minh Ngọc cũng tạo sức sống riêng cho nhân vật dù câu chuyện cũng chỉ là một cuộc độc thoại.
             
Cùng với bối cảnh, âm nhạc cũng trở thành cái nền chủ đạo dẫn dắt cảm xúc. Đạo diễn Cường Ngô để cho khán giả cùng phiêu lưu trong “hành trình đi tìm tình yêu, khao khát yêu và được yêu” của những người phụ nữ, đi dọc không gian, thời gian và cả trong tầng sâu tâm thức.
                                                          
Nghệ sĩ Kiều Chinh tham gia vào câu chuyện cuối: Thời gian
Xét trên tổng thể, Ngọc Viễn Đông đã “tròn trách nhiệm” đưa khán giả đi dọc các miền đất đẹp nhất, trải dài đất nước với những khung hình rất đẹp – đúng nghĩa với danh hiệu đã nhận được tại CAIFF. Nhưng đi vào những câu chuyện cụ thể thì có lẽ không có sự đồng đều trong nội dung, giá trị thông điệp cũng như là sự lựa chọn cách thể hiện của đạo diễn.
Mỗi câu chuyện chỉ là một lát cắt, số phận và tâm tư của người phụ nữ: có thơ mộng huyền ảo, có bi kịch, chờ đợi và thao thức với những u uẩn riêng. Nếu như với văn học người đọc có thể thẩm thấu từ từ những câu chuyện bằng con chữ thì trên màn ảnh rộng, có những câu chuyện được kể chỉ như một khoảng lặng, để cho mọi hình ảnh làm nên giá trị. Nhưng cũng chính vì “những khoảng lặng” đó mà đôi lúc nhân vật chỉ được xử lý bằng hình ảnh đẹp như một bức tranh nhưng chưa thật sự lột tả được hết những nỗi niềm riêng.
                                                                                                                                           
Hồn nhiên với Thơ
Huyền bí với Thuyền
 
Xa xót với Trăng huyết
                        
Ngắn ngủi với Thực và Mộng
 
 Phiêu lãng và mộng mị với Thức
Nếu xét ở góc độ suy gẫm thì Ngọc Viễn Đông có thể để lại những giá trị sâu từ câu chuyện đã có sức lắng đọng trong văn học. Nhưng nếu nhìn nhận ở góc độ giải trí thì có lẽ phim cũng không dễ dàng đến được với số đông khán giả. Xem Ngọc Viễn Đông cũng giống như bắt đầu một hành trình đi vào nội tâm của nhân vật – một cách “đọc sách trên màn ảnh rộng” với sự tương tác đầy đủ về hình ảnh, bối cảnh và nhân vật nhưng sẽ không có đủ thời gian dừng lại để chiêm nghiệm điều gì sâu hơn. Đôi khi, sự liên tiếp của hình ảnh cũng khiến cho người xem hụt hơi trong cảm nhận vội vã về những nỗi niềm riêng, day dứt của nhân vật.
Có những câu chuyện chỉ là cuộc độc thoại của nhân vật. Mạch phim đôi lúc chậm đến mức như thể thử thách lòng kiên nhẫn của khán giả. Ngọc Viễn Đông có thể không thu hút được những ai chỉ muốn tìm đến tiếng cười, nhưng sẽ giữ chân khán giả muốn đi đến cùng, khám phá cái đẹp và những thao thức trong sâu thẳm của con người.
Tiểu Quyên. Ảnh: Tiểu Quyên & đoàn làm phim cung cấp