Chiều 9-4, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Nhất, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng đã trình bày tờ trình trước Quốc hội về đánh giá tình hình, kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm 2021-2025, dự kiến kế hoạch 5 năm 2026-2030.

Toàn cảnh Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng cho biết trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 kéo dài và kinh tế thế giới nhiều biến động, nhưng với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, người dân, doanh nghiệp dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, nổi bật. Theo đó, đạt và vượt 22/26 chỉ tiêu chủ yếu giai đoạn 2021-2025, trong đó năm 2024, 2025 hoàn thành toàn bộ 15/15 chỉ tiêu.
Năm 2025, quy mô GDP đạt 514,4 tỉ USD, gấp 1,48 lần năm 2020; GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD, gấp 1,4 lần năm 2020; an sinh xã hội được đảm bảo.
Về dự kiến Kế hoạch phát triển KT-XH giai đoạn 2026-2030, Chính phủ nhìn nhận tình hình thế giới tiếp tục biến động rất nhanh, mạnh, khó lường…
Nâng cao mọi mặt đời sống của nhân dân
Để hiện thực hóa mục tiêu, tầm nhìn phát triển đến năm 2030 và năm 2045, vượt qua bẫy thu nhập trung bình, Chính phủ xác định mục tiêu phát triển nhanh, bền vững đất nước, phấn đấu tăng trưởng GDP năm 2026 và bình quân 5 năm 2026-2030 từ 10% trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt 8.500 USD, gấp 1,7 lần năm 2025; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; nâng cao mọi mặt đời sống của nhân dân, để nhân dân được thụ hưởng mọi thành quả của phát triển.

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng trình bày tờ trình chiều 9-4. Ảnh: Phạm Thắng
Trên cơ sở phân tích, đánh giá toàn diện những thuận lợi, khó khăn và với quyết tâm cao, Chính phủ trình Quốc hội 5 quan điểm chỉ đạo, điều hành, 59 chỉ tiêu chủ yếu, 11 nhóm giải pháp trọng tâm trong giai đoạn 2026-2030 và 92 nhiệm vụ cần thực hiện ngay trong năm 2026.
Trong đó, bao gồm các nhiệm vụ trọng tâm: Tập trung hoàn thiện thể chế phát triển đồng bộ, hiện đại, cạnh tranh để tạo đột phá tăng trưởng, xác lập mô hình tăng trưởng mới; chuyển mạnh phương thức quản lý nhà nước từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm". Nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật.
Hoàn thiện các tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật; tháo gỡ căn bản các rào cản, điểm nghẽn, hoàn thiện thể chế, pháp luật để phát triển nền kinh tế số, đầu tư kinh doanh. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phấn đấu môi trường đầu tư của Việt Nam vào nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN và nhóm 30 nước hàng đầu thế giới vào năm 2028. Tăng cường hơn nữa phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí.
Cùng với đó, chuyển đổi mô hình tăng trưởng; đẩy mạnh cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực; phát triển các khu vực doanh nghiệp, các mô hình kinh tế mới. Thúc đẩy và làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống, phát triển mạnh các mô hình kinh tế mới, khai thác không gian phát triển mới. Hiện đại hóa nền công nghiệp quốc gia vững mạnh.
Tạo đột phá phát triển các thành phần kinh tế gắn với triển khai hiệu quả các Nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị. Phát triển thị trường trong nước trở thành điểm tựa quan trọng cho tăng trưởng; mở rộng, đa dạng hóa thị trường, tham gia sâu vào chuỗi cung ứng chiến lược của các nước lớn.
Thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn, chống khủng hoảng kinh tế; khơi thông và đa dạng hóa các chuỗi cung ứng, kênh dẫn vốn. Phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, thống nhất, hiệu quả, linh hoạt giữa chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác....
Đến năm 2030, tỉ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP
Chính phủ cũng tập trung phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đến năm 2030, tỉ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP. Phát triển mạnh công nghiệp văn hoá, giải trí, kinh tế di sản… nâng cao đời sống văn hoá, thu hẹp khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, miền, các tầng lớp nhân dân.
Hiện đại hóa nền giáo dục quốc dân, nâng cao chất lượng đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài, nhất là trong các ngành nghề kỹ thuật, công nghệ và phục vụ các chương trình, dự án chiến lược, trọng điểm. Phát triển một số cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu trở thành các trung tâm ngang tầm các nước tiên tiến.
Đồng thời, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; thúc đẩy đô thị hóa và phát triển đô thị, liên kết vùng. Tập trung đầu tư các tuyến đường bộ cao tốc theo quy hoạch, các cảng biển cửa ngõ kết hợp trung chuyển quốc tế, các cảng hàng không lớn, tuyến đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam, các tuyến đường sắt kết nối quốc tế, đường sắt đô thị; đến năm 2030 đưa vào sử dụng trên 5.000 km đường bộ cao tốc. Phát triển hạ tầng năng lượng đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế cao gắn với đảm bảo an ninh năng lượng...
Quản lý phát triển xã hội bền vững; bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, chăm lo đời sống nhân dân. Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa tầng, hiện đại, thích ứng linh hoạt. Hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội theo hướng hiện đại, hội nhập, bao phủ toàn bộ lực lượng lao động. Phát triển thị trường lao động linh hoạt, đồng bộ, hiện đại và hội nhập. Khuyến khích làm giàu chính đáng, phát triển mạnh tầng lớp trung lưu.
Đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội và nhà ở thương mại giá rẻ. Xây dựng hệ thống y tế công bằng, chất lượng, hiệu quả; kiểm soát tốt dịch bệnh. Thực hiện tốt chính sách, chế độ đối với người có công, đối tượng chính sách, dân tộc, tôn giáo… xử lý cơ bản ô nhiễm không khí, ngập úng, tắc nghẽn giao thông tại một số đô thị lớn như Hà Nội, TPHCM...
Chính phủ cho biết thống nhất tư duy, nhận thức, khát vọng và hành động; đổi mới quản trị thực thi, xác định tăng trưởng "2 con số" là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, phải cụ thể hóa trong các chương trình, kế hoạch công tác hằng năm; kiểm tra, giám sát, đánh giá dựa trên tiêu chí kết quả thực hiện. Tăng cường thông tin, tuyên truyền, củng cố niềm tin, khát vọng phát triển của toàn xã hội.
Riêng năm 2026, Chính phủ nhấn mạnh các nhiệm vụ trọng tâm tập trung nhấn mạnh vào: Công tác hoàn thiện thể chế, pháp luật; cắt giảm tối thiểu 50% chi phí, thời gian tuân thủ thủ tục hành chính của năm 2026 so với năm 2024; phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, khai thác các động lực phát triển mới; tháo gỡ các dự án tồn đọng; huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực.
Bình luận (0)