Giáp mặt
Vừa lọt vào vòng rào khu 2 (nam), đập vào mắt chúng tôi cảnh tượng khiến hai đồng nghiệp nữ cùng đi hết hồn, cúi gầm mặt: Một anh chàng trần như nhộng đứng tắm bên hồ nước giữa thanh thiên bạch nhật và bá ban con người. Anh ta ngây mắt nhìn đám người lạ vào trại rồi nhăn răng cười cứ như là một đứa bé lên ba. Lúc này là hai giờ chiều, là giờ đi lao động, chỉ còn lại một ít trong số 700 trại viên của khu này, vào ngày theo học các lớp dạy nghề, buổi chiều họ có giờ tự học nên được ở tại trại. Nói là một ít nhưng nhìn đâu cũng gặp người, dọc hành lang, bên cửa sổ, túm tụm dưới những bóng cây trong sân. Tất cả các đôi mắt đều mở tròn nhìn chòng chọc vào chúng tôi với biểu cảm thật khó diễn tả. Và, chỉ khá hơn anh chàng Adam kia một chút là trên người họ còn mặc những chiếc quần cụt. Lồ lộ trên phần da thịt phơi trần; trên những thân thể xám xỉn, mập bệu hay ốm lòi xương là những hình xăm trăm kiểu, hầu như là không có tấm lưng, bộ ngực, bắp tay nào là không có hình xăm. Lúc vào, chúng tôi định sẽ chia nhau ra, đi đến từng phòng để tiếp xúc với các trại viên, muốn tìm một bầu không khí thân thiện để dễ bề hỏi chuyện. Nhưng trước cảnh tượng vừa thấy, hai cô bạn đồng nghiệp quyết định nhờ anh cán bộ hướng dẫn tập họp số học viên của lớp vi tính lên nhà của đội quản trại. Tôi lập tức ủng hộ quyết định này, vì một trắc ẩn riêng mà những người đi cùng không biết. Loa gọi tên và chừng 5 phút sau, sáu thanh niên ăn vận tề chỉnh bước vào phòng, trông họ chẳng khác gì chúng tôi, tất cả đều hiền lành, lương thiện, dường như họ không là thành viên của đám đông đang thập thò ngoài kia...
Tìm thân nhân
Nghe tin tôi sắp có chuyến lên trại cai nghiện Phú Văn này, ông anh họ gọi điện thoại: “Mày cố gắng tìm thăm thằng Phương, nó đang “học” trên đó”. Phương là con của cậu Bảy, anh ruột má tôi. Phương sinh ở miền Bắc trong những năm chiến tranh, sau giải phóng theo cậu mợ tôi về Nam sinh sống ở TPHCM, khi ấy anh mới chừng sáu, bảy tuổi. Ngày ấy nhà tôi còn ở một vùng quê tận mũi Cà Mau. Mỗi lần Phương theo ba mẹ về quê chơi, với con bé Minh em tôi, cùng tuổi với anh Phương, một đứa bé nông thôn, đi học phải mất hàng giờ bơi xuồng để đến với ngôi trường mái lá không vách che, bàn ghế ghép bằng những tấm ván vụn, chân cẳng xiêu vẹo, thì những câu chuyện học hành, trường lớp, bè bạn của anh Phương là cả một thế giới thần tiên đối với nó. Năm cậu tôi làm giám đốc một xí nghiệp in, năm ấy anh Phương 14 tuổi, một hôm má tôi nhận được tin sét đánh: Anh Phương mất tích, tình nghi là bị bắt cóc! Má tôi ra xe đò lên thành phố, thì cũng vừa lúc cậu tôi đón được anh Phương từ Đà Lạt về. Câu chuyện bắt cóc gượng gạo không che mắt được người đàn bà nông thôn là má tôi về sự hư hỏng bỏ nhà đi hoang của đứa cháu mà bà yêu quý. Năm đó con bé Minh cũng phải ra chợ học vì trong quê hết lớp. Ba má tôi gởi nó ở trọ hết chỗ này đến chỗ kia, rồi thì nó cũng đậu được vào đại học. Như những sinh viên khác, con bé Minh lên thành phố, chen chúc trong ký túc xá với phiếu cơm và nhà ăn tập thể. Những năm đó, ngôi nhà mặt tiền của cậu tôi trên một con đường lớn ở quận 1 được một công ty nước ngoài thuê làm văn phòng đại diện. Ông mua thêm căn nhà khác trong con đường nhỏ cùng quận, cũng rộng không kém. Cậu tôi nghỉ hưu sớm hơn mấy năm để đưa đón anh Phương đi học bổ túc bằng xe hơi. Dù năm ấy đã ngoài hai mươi, nhưng anh Phương vẫn còn ì ạch vật lộn với cái bằng cấp ba, mà rốt cuộc vẫn không lấy được. Em gái tôi ra trường ở lại Sài Gòn làm việc, thuê nhà trọ rồi mua chung cư, lấy chồng, sinh con. Anh Phương thì bỏ học hẳn, nghiện nặng ma túy, hết hút tới chích, nhưng cậu tôi quyết giấu nhẹm chuyện này với người thân. Một lần anh Phương sử dụng thuốc quá liều, khiến hư một mắt, con mắt còn lại phải ra tận Viện Mắt Hà Nội mới cứu được. Một bữa, cậu tôi điện thoại đến nhà con Minh - em tôi - hỏi mượn tiền trong tình trạng rất khẩn thiết, nói rằng anh Phương bệnh nặng mà mợ tôi lại về Bắc thăm quê. Em tôi không tin gặn hỏi, bức xúc ông đành nói thật là anh Phương đang đói thuốc vật vã, ông không thể chịu nổi, mà nhà thì hết tiền. Ông tức tốc đi xe ôm đến nhà em tôi, đứng ngoài cửa nhận tiền rồi quay đi ngay, không kịp vào nhà uống ly nước. Ông vừa đi thì tôi tới. Nghe chuyện, không còn bình tĩnh được nữa, tôi lập tức phóng xe đến nhà ông. Cửa cổng, cửa nhà đều mở. Căn nhà rộng trống hoang như của người đậu bạc tạm bợ. Sự giàu có của nhà ông đã đội nón ra đi để đổi lấy con nghiện đang nằm kia. Giữa nhà, trên tấm nệm anh Phương nằm thiêm thiếp, có lẽ vừa được no thuốc. Cậu tôi quỳ gối bên góc nệm như người đang cầu nguyện. Chỉ hơn một năm tôi không gặp, mà giờ đây ông cứ như một người khác, mái tóc bạc trắng, gương mặt trắng bệch với cái nhìn cũng trắng dã, vô hồn. Gần mười phút trôi qua, tôi và ông cứ nhìn nhau mà không nói một lời, mấy lần tôi cố nuốt vào ngực câu nói độc địa đang run lên trên đầu lưỡi. Có một nghịch lý đầy cay đắng: Thật khó lòng tin được ông già bạc nhược kia lại chính là cậu tôi, một kỹ sư luyện kim từng tốt nghiệp ở Liên Xô, từng là niềm mơ ước, niềm tự hào của tôi trong những năm chiến tranh khi ông còn là một kỹ sư nổi danh của khu gang thép Thái Nguyên trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Mỗi lần con nghiện nằm kia trở mình co giật, ông lại phủ phục xuống ôm ấp che chở. Nhưng biết làm sao được, vì chính đó là con ông, phần ruột thịt mà ông đã sinh thành.
Sau lần chứng kiến ấy, tôi không thể giấu giếm, với áp lực của cậu Năm tôi, người anh lớn nhất trong họ ngoại tôi hiện còn sống, đã buộc cậu Bảy tôi phải đưa anh Phương đi cai nghiện. Trên suốt đoạn đường gần 200 cây số lên trại, tôi cứ cân phân mãi xem mình có nên tìm thăm anh Phương hay không? Và cuối cùng, khi ngồi làm việc cùng ban lãnh đạo trại, tôi quyết định là không. Không phải vì tôi mắc cỡ với những người phụ trách ở đây, khi mình cũng có người thân đang cai nghiện. Tôi hiểu các anh chị ở đây đủ thông cảm để chia sẻ với hoàn cảnh này của tôi. Tôi cũng biết, nếu gặp được tôi, ít nhất anh Phương cũng có thêm một niềm an ủi. Nhưng chỉ vì tôi yếu đuối, tự thấy mình không đủ sức cho một cuộc gặp quái gở như vậy, cho nên khi vào cuộc tiếp xúc với các trại viên, tôi chọn vị trí ngồi quay mặt vào trong để tránh những ánh mắt nhìn vào từ bên ngoài...
Một trong 2.400 câu chuyện
Tại khu 3 (nữ), trong số 3 trại viên mà chúng tôi được tiếp xúc, có một cô rất trẻ, da ngăm, tóc dài, mắt đen tròn, trên má có lúm đồng tiền trông khá xinh, tên Phượng. Suốt cuộc trò chuyện, Phượng chỉ ngồi làm thinh, chốc lát góp vào nụ cười buồn, hờ ơ. Khi câu chuyện học hành, lao động, những điều thắc mắc, những dự định cho ngày ra trại... đã cạn và chúng tôi sắp nói lời từ giã, chợt cô bạn cùng đi hỏi: Trong số chị em ở trại, có ai đã lập gia đình, đã có con cái trước khi vào đây? Thật bất ngờ, Phượng lên tiếng là mình. Phượng có một đứa con gái, năm nay đã được ba tuổi. Ngày Phượng vào trại, cháu bé mới hơn một tuổi. Phượng vào trại đã được 21 tháng.
Phượng sinh ra tại quận 5, TPHCM, là con một trong một gia đình không phải giàu có lắm, nhưng kinh tế khá ổn định, nên từ nhỏ lớn lên cô chỉ biết đi học và chơi. Năm Phượng học lớp 8 thì cha mẹ Phượng ly dị. Sau đó không lâu, cả mẹ và cha cô đều lập gia đình khác. Phượng vẫn ở với mẹ. Nhưng từ đó, Phượng vẫn ngày ngày cắp sách nhưng không đến trường. Khi hay được con mình bỏ học, mẹ Phượng cũng thờ ơ mà cho con nghỉ học. Vài năm sau, năm Phượng mười tám tuổi, cô lập gia đình với một người đàn ông gốc Hoa, cùng phố, lớn hơn mình tám tuổi. Chồng Phượng là một người chí thú làm ăn, anh là đầu bếp của một tiệm ăn trong phố. Người đàn ông này đã để ý và có cảm tình với Phượng từ khi cô mới lớn. Vẫn biết Phượng bỏ học sớm và có thời gian chơi bời lêu lổng cùng chúng bạn, nhưng mãi đến khi Phượng sinh con, năm đó cô mười chín tuổi, thì chồng Phượng mới phát hiện ra là vợ mình đã nghiện ma túy. Sau nhiều cố gắng cai nghiện tại nhà mà vẫn không thành, với sự động viên của chồng và nhà chồng, Phượng lên phường viết đơn tự nguyện xin đi cai nghiện. Phượng nói: “Khi đăng ký đi cai, tụi em dự định là 12 tháng. Nhưng sau đó thời gian quy định tăng lên là 24 tháng. Em vẫn cố gắng, vì thấy 12 tháng vẫn chưa đủ để mình quên hẳn. Nhưng bây giờ là 5 năm. Chẳng rõ khi em được về rồi mọi việc nó như thế nào?”. Hiện tại đôi ba tháng chồng Phượng vẫn đưa con lên thăm mẹ. Nhưng cháu bé ngày một lớn, mỗi lần lên thăm, nó không dám đến gần, cứ trố mắt nhìn mẹ như nhìn một người xa lạ. Phượng nói: “Chẳng biết khi em về, con nó có còn nhìn mẹ?”. Chúng tôi lặng thinh, chẳng ai dám trả lời câu hỏi này, dù là nói để an ủi Phượng.
Ở đây, trong trại cai nghiện Phú Văn này, có đến hơn 2.400 cuộc đời, mà hầu hết là những người tuổi trẻ, cái tuổi đang cần thiết biết bao cho đất nước, cho mỗi gia đình. Chỉ trong một thời gian không lâu, trên địa bàn TPHCM, đã tập trung được đến gần 30.000 con nghiện, 30.000 tuổi trẻ đang hoang phí, hủy hoại. Nếu tính trên cả nước, con số này là bao nhiêu? Tôi chưa biết. Trên đường về, tôi thú thật với mấy bạn đồng nghiệp rằng trong đời tôi, cho đến nay, tôi vẫn chưa một lần nhìn thấy cái chất ma túy kia nó ra làm sao. Thế mà gia đình tôi đã là một nạn nhân của nó. Cái sự tàn hại của ma túy thì bày ra nhãn tiền, mà nó cứ như là một thứ giặc vô hình ác hiểm không biết rồi nó sẽ tới từ phía nào.
Bất ngờ phút cuối
Khi chúng tôi rời khu 2 (nam), vì là người đi sau cùng, có rất nhiều trại viên cố tình đi lướt qua gần tôi, đưa hai ngón tay lên môi ra hiệu xin thuốc lá. Dù gói thuốc trong túi vẫn còn đầy, nhưng tôi không thể cho, vì đây là một quy định nghiêm khắc. Trong suốt cuộc trò chuyện với các trại viên nam, tôi cũng đã cố gắng không hút thuốc lá, dù không bị cấm, tôi cũng không nỡ hút trước mặt họ. Và không chỉ những tay dạn dĩ đến gần, tôi nhìn quanh, núp sau cửa sổ, hồ nước, gốc cây đâu đâu cũng gặp hai ngón tay đưa lên môi với ánh mắt van nài. Rồi sừng sững trước mặt tôi một anh chàng, cũng với hai ngón tay cầu xin. Thì ra là anh Phương. Tôi đã suýt kêu tên anh. Nhưng anh thì chẳng hề nhìn ra tôi. Bao nhiêu năm tôi và anh Phương không đối diện nhau? Có lẽ cũng gần mười năm. Thời gian ấy có đủ để hai người ruột thịt chúng tôi không còn nhìn ra nhau chăng? Hay cái cơn thèm thuốc đã choáng hết trí nhớ của anh? Tôi không biết, chỉ biết cắm đầu đi nhanh...
Trong câu chuyện kéo dài gần 2 giờ giữa chúng tôi và các trại viên nam, càng về sau câu chuyện càng xoay quanh những dự tính tương lai cho những ngày sau trại. Dù có than thở, họ vẫn thấy sự cai nghiện bắt buộc là chính đáng, vẫn chấp nhận cái con số năm năm như một định mệnh mà họ phải vượt với một khoảng sáng ấm nóng phía trước. Sáu con người trẻ ấy vẫn còn nuôi đủ sáu niềm hy vọng, sáu viễn cảnh ước mơ. Nhìn họ, nghe họ mà tôi chợt rợn người khi nhớ tới con số được những người có trách nhiệm ở đây thông báo: Có đến hơn 70% số trại viên trong trại này đã mang mầm HIV dương tính. Cái mầm mống chết chóc trong người lẽ nào họ không biết? Thế mà...
Tự dưng tôi chợt nhớ câu nói của vị cựu tổng thống Hàn Quốc Kim Yong In mà một lần tình cờ tôi đã đọc được đâu đó, đại ý: Cho dù ngày mai có tận thế đi nữa, thì hôm nay mỗi người cũng nên trồng một cây gì đó. Thôi thì các bạn hãy trồng. Và anh Phương của tôi nữa, hãy trồng...
Bình luận (0)