Ngày trước, hồi chúng tôi mới dọn về đây, con sông Tô Lịch đích thị là một đường cống lộ thiên nhiều dề rau muống xanh một cách khả nghi cung cấp cho cư dân Hà Nội. Trước đó nữa, lần đầu cách đây đúng 20 năm, lần đầu anh Nguyễn Quang Thân đèo tôi qua đây, nhờ đèo bằng xe đạp nên tôi được ngắm Tô Lịch khá kỹ và tôi đã không khỏi kêu lên: “Trời, Tô Lịch vầy sao?”. Ai là người yêu lịch sử nước nhà chắc cũng phải kêu lên như tôi nếu trông thấy nó. Quả nhiên, mười năm sau, khi con gái tôi lần đầu ra Hà Nội, lúc qua đây nó cũng đã lặp lại đúng cái câu thảng thốt của tôi hồi trước. Tô Lịch bây giờ đã được cấp vốn ODA kè bờ như Nhiêu Lộc - Thị Nghè nhưng vẫn là cái cống lộ thiên vĩ đại không rau muống, những hôm Tết còn thấy cả xa lông, giường tủ cũ và nệm mút bập bềnh nữa.
Que sắt, que nhôm đâm cả vào người.- Chính vì Tô Lịch còn là “công trình của tương lai” nên từ khu tập thể Kim Giang ra đường lớn chỉ vài cây số mà tôi phải dè chừng đủ thứ. Này nhá, đây là đường mà các ô tô khách vào Hà Nội có thể đi vòng vèo để tránh kiểm soát của công an. Này nhá, những chiếc xe dù ấy thường dứt khoát không nhường đường cho những cỗ xe ca đưa đón học sinh của Phân hiệu Marie Curie bên kia cầu nên lúc đó cảnh tắc đường đột xuất sẽ diễn ra. Này nhá, hãy coi chừng những xô nước thải mà cư dân lấn chiếm thản nhiên hắt ra, vì đã là lấn chiếm nên làm gì có cống thoát nước? Này nhá, nếu hôm đó mà có mưa thì coi chừng ổ gà ổ voi sẽ biến thành ao vũng vì thứ nước thải mỗi ngày của dân chúng đã liên tục xói mòn đường không đủ tiêu chuẩn. Dù vậy, vẫn thấy người ta lên tầng hoặc cơi nới ào ào không chừa tí ti vỉa hè nào để mai kia được đền bù giải tỏa. Thế là một cái vòng luẩn quẩn như thể đương nhiên: công chánh sửa đường - dân liều ngang nhiên chiếm cứ và thải nước phá - công chánh lại đào và vá đường!
Đáng lẽ từ cây cầu chỗ Trường Marie Curie lên Cầu Mới gần Ngã Tư Sở đã có thể men theo sông Tô Lịch phới lên nhưng tấc đất là tấc vàng, dân đâu có chịu cho đường nó ngay thẳng ra. Vì vậy, đoạn đường khiến tôi “nể” nhất là đoạn cổ chai nối Tô Lịch với đường lớn. Xin nói rõ, những chỗ mà dân Hà Nội gọi cổ chai, tức là những chỗ người ta đã lấn chiếm xong rồi, chính quyền địa phương đã làm ngơ đủ rồi, giờ chỉ còn Nhà nước ra tay thu dọn. Chưa thu dọn tức là chưa đủ tiền đền bù và thế là thành “cổ chai”. Đã là cổ chai thì không có vỉa hè, và người ta thản nhiên họp chợ chồm hổm, thản nhiên ăn và uống, ném cả khăn giấy và xương xóc ra đường, những cửa hàng vật liệu xây dựng còn nhập và xuất hàng trong giờ cao điểm khiến những que sắt, que nhôm đâm cả vào người đi đường.
Thoát được “cổ chai”, đường Nguyễn Trãi nối Hà Đông với Hà Nội đây rồi. Một bầu không khí của đường đôi và đại lộ. Một dòng thác người đổ vào trung tâm, ngoại thành bao giờ cũng là vị thế của dân chung cư thu nhập thấp và là cái túi chứa dân tỉnh xa đổ về Hà Nội kiếm cơm. Năm mươi năm tiếp quản thủ đô, gần hai mươi năm giã từ bao cấp nhưng Hà Nội vẫn rất nhiều xe sọt, xe thồ. Một dòng xe thô sơ hung hăng lấn át xe cơ giới bởi quan niệm một thời: có va chạm thì dứt khoát xe to phải có lỗi và người nghèo sẽ được bênh vực. Người ta lầm lụi và bất chấp, nếu cảnh sát mở đợt thì họ ngoan ngoãn vào luồng được vài hôm. Từ ngày lập tuyến dành riêng cho xe buýt, dòng xe thô sơ càng bị ép vào trong, xem chừng họ chỉ chịu yên khi nào cảnh sát và thanh niên tình nguyện còn giăng hàng dày đặc như những ngày qua. Không khỏi chạnh nghĩ: “Nước sông công lính”, nhưng đây đâu còn là thời chiến, hình như lính cảnh sát cũng không nhiều như thể nước sông, cũng không thể tận dụng tình nguyện viên vào những việc này mãi vì họ cơm cha áo mẹ, họ còn phải học hành và vui chơi, họ không thể phí mãi thời giờ cho mỗi việc lùa những người đi xe đạp vào đúng luồng đường! Mà không có họ và công lính cảnh sát thì đâu lại vào đấy như nhiều năm qua.
Chợ tan mà rác không tan.- Ngã Tư Khổ, địa danh trần ai nức tiếng hiện ra với mùi ung ủng lưu cữu của khu chợ vựa, chủ yếu là mùi măng chua. Tôi không hiểu sao người Hà Nội không để vai trò vựa cho chợ vệ tinh Hà Đông và buộc tư nhân đưa rau quả vào nội thành sớm bằng xe cơ giới như Sài Gòn đã làm hàng nửa thế kỷ nay. Những hôm có việc qua Ngã Tư Sở vào sáng sớm tôi thấy một quang cảnh chợ đầu mối với lượng rác đủ làm ô nhiễm cả khu vực cả ngày hôm đó. Thế là nút giao thông trong giờ cao điểm luôn trong tình trạng chợ tan mà rác không tan hết, trong lúc giữ ga giữ thắng để sẵn sàng lao lên như mọi người, tôi thường có cảm giác mình bị nhấn chìm trong bầu ôxy bị đánh cắp, ngập chìm trong rác rến và cống rãnh lộ thiên, ngập chìm trong sự hầm hừ giống nhau của người đi đường. Và, bởi mình đâu có thần thánh gì nên mình cũng sốt ruột và chen lấn, cũng sẵn sàng thịnh nộ và chửi bậy như mọi người. Nhiều ngày nhiều năm như vậy, hình như mình cũng bị tàn phá, da dẻ và dung nhan, tính cách và nhân cách. Bởi nếu mình lờ quờ nhún nhịn thì mình sẽ bị húc vào xe từ phía sau, hoặc là bị nghiền nát mắt cá chân, hoặc là sẽ bị quát vào mặt vì đã vướng đường người khác, cái chính là vì người ta luôn trong tư thế hơn thua nhau từng nửa vành bánh, trên đường.
Sẵn sàng gầm ghè kẻ khác.- Tôi nhớ năm 1984, lần đầu ra Hà Nội. Xe đạp cuồn cuộn nếu ta đứng ở cửa ngõ khu chung cư giờ thiên hạ đi làm, ai cũng nghèo khó và trầm tư, một dòng chảy thẫn thờ, buồn thảm. Lên xe điện, cảm thấy thời gian dật dờ, mình như kẻ vô công rồi nghề giữa một thứ mùi cũ kỹ và hoang phế. Lên xe buýt thì người ta ép nhau như ép cá khô, một tay tôi giữ chặt thanh vịn, tay còn lại phải giữ miệng túi xách hoặc túi áo, kính đi đường phải có dây đeo và nhớ là đừng để cái cùi chỏ nhọn huých vào ai. Người ta đói và khổ nên người ta sẵn sàng gầm ghè kẻ khác. Bây giờ Hà Nội đã ăn ngon mặc đẹp, đã có rất nhiều ô tô và nhà lầu, nhà nào cũng có đủ xe máy cho các thành viên trong gia đình. Thế nhưng tôi vẫn thấy người ta giống một bầy kiến tất tả và bất trị. Nói vậy không có nghĩa là dân thủ đô không có lúc trật tự và thăng hoa, bằng chứng là sau mấy trận bóng đá thư hùng của đội nhà trong ngày hội SEA Games năm ngoái. Những lúc ấy cảnh sát không nhọc công ra oai, người ta hò la mà vẫn thân thiện, người ta sẵn sàng ôm chầm lấy nhau, ngây ngất, yêu thương. Những lúc ấy, lòng yêu nước vốn là truyền thống của người Việt Nam được đánh thức, lòng tự hào dân tộc được tôn vinh. Nhưng chỉ vài ngày sau thì đâu lại vào đấy, tôi thường tự hỏi, chúng ta là những người buồn vui thất thường, hiếu thắng và dễ bị kích động, hay là hằng ngày hằng giờ, sợi dây yêu nước trong từng con người đã bị gỉ sét vì những bụi bặm thường nhật? Hay là người ta thường xuyên bị dồn nén hoặc là bị bỏ mặc, cả hai tình trạng đều dễ biến con người thành bất cần và chai sạn. Thôi thì nên nghĩ đơn giản: Khi được sống trong một ngôi nhà mà người trên kẻ dưới thảy đều lành mạnh, giỏi giang, quy củ thì văn hóa sẽ được đề cao, con người sẽ cảm thấy mình được tôn trọng. Ở đây, sự bừa bộn và bất cập của đường phố, sự bon chen và giẫm đạp, sự lôm côm và tuột dốc của mọi thứ đã làm cho con người thấy mình bị xúc phạm và chính họ lại phải tham gia vào vòng quay hỗn loạn đó. “Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà” chăng?
Nhà hộp diêm và toa-lét.- Khác với nút Ngã Tư Sở, nút Chùa Bộc mà tôi phải qua, lòng đường đã hẹp hơn mà xe buýt lại dồn cục hơn. Mật độ công sở đoạn này đã dày lên, ô tô của các ông bà chủ trẻ ở đâu túa ra cũng nhiều lên. Chiếc Charly bất hạnh của tôi thường bị kẹp giữa một bên là dãy ô tô con sang trọng, bên trong là dãy xe buýt đủ cỡ đồng phục vàng và đỏ đặc trưng, lúc đó thật lòng, tôi hay chạnh nghĩ đến sự lỡ làng thế hệ của mình đối với nhà lầu và xe hơi, đồng thời cũng hay hình dung khi mình sẽ đứng lúc lắc trên những chiếc xe buýt kia lúc về già. Dù đoạn này vỉa hè rộng, các gã phân khối lớn đã rồ máy leo hè lên đường để chen lấn nhau trên đó, tôi thường phải đứng yên cam chờ trong mùi xăng sống. Charly pô thấp, sao dám trèo lên vỉa hè để ganh đua với ai?
Trong lúc nhấp nhổm chờ ở nút thứ tư - nút Kim Liên - để chính thức đặt chân vào nội thành, tôi bỗng nhớ đến cảnh nhà hộp diêm và toa-lét công cộng của cư dân khu phố cổ. Phố cổ phải đi cùng với những ngôi nhà nguyên trạng cổ, nhưng chiến tranh ly loạn và tình trạng hậu chiến hỗn độn đã biến ba mươi sáu phố phường xưa chỉ còn đẹp trong ký ức. Phải thực cổ với ý nghĩa tôn vinh của từ này, chuyện đó là không thể nữa nhưng người ta vẫn hy vọng và chờ đợi, vì vậy dân chúng phải tiếp tục giống như những sinh vật bị nhốt trong một khu trại không ra hình thù gì. Thiết nghĩ, một phương án Old Hanoi và một New Hanoi ở đôi bờ sông Hồng là văn minh và khả dĩ dù đã quá muộn. Giống như tình trạng của giáo dục và y tế, không ai còn biết bắt đầu làm lại từ đâu và làm như thế nào. Nhưng mà muộn còn hơn không.
May mà còn những bài hát.- Một ngày công sở mệt đừ, chiều về, lại mấy cái nút đường trên một quãng chỉ có bảy cây số rưỡi. Lại thấy đội quân cảnh sát Ngã Tư Sở da dẻ cóc kèn đã có mặt tự bao giờ để hầm hừ nhiệm vụ cùng với sự hầm hừ của người đi đường. Lại chạnh nghĩ, nếu mình mặc cảnh phục và phải chốt ở đây ngày này sang ngày khác thì mình có đủ kiên nhẫn để trong
Suy ngẫm: Một ngày công sở mệt đừ, chiều về, lại thấy đội quân cảnh sát Ngã Tư Sở da dẻ cóc kèn đã có mặt từ bao giờ để hầm hừ làm nhiệm vụ cùng với sự hầm hừ của người đi đường. Lại chạnh nghĩ, nếu mình mặc cảnh phục và phải chốt ở đây ngày này sang ngày khác thì mình có đủ kiên nhẫn để trong sạch, mềm mại, lịch sự như là dân chúng yêu cầu không? Rồi lại tự hỏi, bản thân người đi đường đã có lịch sự, mềm mại và tử tế với đồng loại của mình chưa đã?
sạch, mềm mại, lịch sự như là dân chúng yêu cầu không? Rồi lại tự hỏi, bản thân người đi đường đã có lịch sự, mềm mại và tử tế với đồng loại của mình chưa đã?
Lại nghĩ, thủ đô chật chội, bừa bẩn và ngột ngạt nhưng sao những bài hát về Hà Nội bài nào cũng da diết, tươi đẹp và trang trọng quá. Có lẽ vì nghệ sĩ thì hay thương mà họ cũng chỉ biết yêu và thương cái thủ đô của mình bằng cách đó thôi. May mà còn những bài hát, những văn nghệ sĩ, những nhà báo, những trí thức rất đông và rất dày của Hà Nội còn biết cách này hoặc cách khác nói lên nỗi lòng mình.
Kim Giang, tháng 4-2004
Bình luận (0)