Thuật ngữ thế chiến thứ tư xuất hiện lần đầu tiên trên nhật báo The Wall Street Journal Mỹ không bao lâu sau khi xảy ra sự kiện 11-9-2001 ở Mỹ. Người đưa ra khái niệm đó là Eliot Cohen, một nhà sử học đồng thời là một chiến lược gia quân sự Mỹ. Ông dùng khái niệm này để chỉ cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu của chính quyền Tổng thống Bush.
Thoạt đầu Nhà Trắng chính thức bác bỏ khái niệm đó bởi vì không những nó “ngu ngốc mà còn tởm lợm”. Nhà Trắng giải thích: “Hai thế chiến đầu tiên, người ta phân biệt rõ ràng ai là kẻ thù thật sự và chiến thắng cũng là thật với tổng số người chết của hai phía là 60 triệu binh sĩ và thường dân. Chiến tranh lạnh không phải là một thế chiến mà chỉ là sự ngăn ngừa nó. Còn chiến dịch (chống khủng bố) mới này là một “cuộc chiến” mà kẻ thù không phải là một quốc gia hay một tư tưởng hệ mà là một chiến lược. Số người chết do nó gây ra, bao gồm cả hai cuộc chiến ở Afghanistan và Iraq, chỉ có vài ngàn người”.
Tuy Nhà Trắng nói vậy, một số quan chức Mỹ khác vẫn dùng khái niệm “thế chiến thứ tư”. Trước hết, đó là James Woolsey, cựu giám đốc CIA, dùng khái niệm đó trong một bài diễn văn hồi năm ngoái kêu gọi chính quyền TT Bush mở rộng các hoạt động bí mật chống khủng bố. Kế đến, tướng Tommy Franks, chỉ huy trưởng Bộ Tư lệnh trung tâm Mỹ chỉ đạo cuộc chiến ở Iraq, cũng đã dùng khái niệm đó khi ông thăm Addis Abeba, thủ đô Ethiopia, hồi mùa hè vừa qua. Ông tuyên bố: “Chúng ta đang ở giữa thế chiến thứ tư. Miền Đông duyên hải châu Phi đang trở thành một khu vực có tầm quan trọng rất lớn”. Ông kêu gọi chính quyền Ethiopia hợp tác với Mỹ bắt giữ các lãnh tụ Hồi giáo địa phương. Đổi lại Mỹ sẽ viện trợ cho Ethiopia 100 triệu USD.
Thật vậy, tướng Frank và những đồng nghiệp của ông ta đang hành động như thể đã có thế chiến thứ tư, hoặc chí ít chiến dịch mà Mỹ phát động đang tiến đến tầm vóc chiến tranh toàn cầu. Chiến dịch đó được xây dựng trên nền tảng quân sự mới, nó diễn ra ở những nơi mà chúng ta chưa bao giờ nghe, và làm những chuyện mà chúng ta thường không thể nghe thấy.
James Jones, chỉ huy trưởng Bộ Tư lệnh quân đội Mỹ ở châu Âu, có lẽ là người nói rõ hơn ai hết quy mô “thế chiến thứ tư” mà Mỹ là nước khởi xướng và đang tiến hành cuộc chiến đó: “Càng ngày, những khu vực vô chính phủ và không ai kiểm soát đó, càng trở thành những địa bàn tiềm tàng cho loại hoạt động mà chúng tôi đang tiến hành. Đó là cuộc chiến toàn cầu chống khủng bố và chúng tôi đang đến những nơi mà bọn khủng bố đang ở”.
Vì vậy, quân lính Mỹ thường trú ở Đức đã di chuyển về châu Phi, hiện nay là Đông Phi còn ngày mai là Tây Sahara và miền Bắc duyên hải Địa Trung Hải. Quân đội Mỹ thường trú ở Nhật Bản và Hàn Quốc đang rời khỏi những căn cứ tại hai nước này để di chuyển về Đông Nam Á nơi có cộng đồng tín đồ Hồi giáo lớn nhất thế giới và cũng là nơi mà người Mỹ tin rằng có nguy cơ cao nhất bùng nổ các hoạt động của tổ chức Al-Qaeda. Hôm qua (14-9), 1.500 lính Mỹ đổ bộ lên miền Nam Philippines, nơi những tên khủng bố Hồi giáo tình nghi có quan hệ mật thiết với Al-Qaeda để tập trận.
Nói cách khác, thế chiến thứ tư là có thật và phần lớn nó đang diễn ra ở những nơi mà báo chí ít khi nói tới bởi tính chất âm thầm, bí ẩn, đầy những mưu mô đôi khi phi nghĩa và phi đạo đức.
Văn Anh (lược dịch)
Kỳ tới: Djibouti, kẻ đắc thắng trong thế chiến thứ tư
Bình luận (0)