Quyết định trừng phạt kinh tế cứng rắn nhằm vào Hàn Quốc gần đây vì triển khai Hệ thống Phòng thủ tên lửa tầm cao giai đoạn cuối (THAAD) là ví dụ mới nhất chứng minh việc Bắc Kinh sử dụng thương mại như một vũ khí chính trị.

Chính phủ Trung Quốc giúp đỡ và sau đó tận dụng sự phụ thuộc kinh tế của các nước để buộc họ ủng hộ chính sách đối ngoại của mình. Các hình phạt về kinh tế của Trung Quốc bao gồm từ hạn chế nhập khẩu, tẩy chay không chính thức hàng hóa của một quốc gia nào đó đến ngừng xuất khẩu mặt hàng chiến lược (như đất hiếm) và khuyến khích biểu tình trong nước nhằm vào các doanh nghiệp nước ngoài cụ thể. Một số biện pháp khác là đóng băng hoạt động du lịch và ngăn đánh bắt cá. Tất cả đều được sử dụng cẩn trọng để tránh gây hại đến lợi ích kinh tế của Trung Quốc.

Mông Cổ là trường hợp điển hình của việc chịu sức ép địa - kinh tế sau khi tiếp đón lãnh đạo tinh thần của Phật giáo Tây Tạng Đạt Lai Lạt Ma vào tháng 11 năm ngoái. Trung Quốc là điểm đến của 90% hàng xuất khẩu Mông Cổ.

Sau khi áp đặt các mức phí khắc nghiệt lên hàng hóa Mông Cổ, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị lên tiếng rằng "hy vọng Mông Cổ thuộc lòng bài học này và thực hiện nghiêm túc lời hứa" không mời lãnh đạo tinh thần Tây Tạng lần nào nữa.

Trường hợp gây chú ý hơn là việc Trung Quốc trả đũa thương mại Na Uy sau khi giải Nobel Hòa bình năm 2010 được trao cho nhà hoạt động Lưu Hiểu Ba. Kết quả là hoạt động xuất khẩu cá hồi Na Uy sang Trung Quốc bị sụp đổ.

Vũ khí hóa thương mại - Ảnh 1.

Tàu sân bay Liêu Ninh của Trung Quốc đi ngang qua một tàu chở hàng gần Hồng Kông Ảnh: BLOOMBERG

Vào năm 2010, Trung Quốc tận dụng sự độc quyền trong khai thác đất hiếm trên toàn cầu để gây tổn hại thương mại Nhật Bản và phương Tây bằng lệnh cấm xuất khẩu không thông báo trước. Đến năm 2012, khi tranh chấp chủ quyền với Nhật Bản tại quần đảo Senkaku/Điếu Ngư bùng phát trở lại, Trung Quốc một lần nữa sử dụng thương mại như một vũ khí chiến lược, khiến Tokyo thiệt hại hàng tỉ USD.

Tương tự, vào tháng 4-2012, sau vụ đụng độ gần bãi cạn Scarborough ở biển Đông, Trung Quốc bắt nạt Philippines không chỉ bằng cách điều động các tàu tuần tra mà còn khuyến cáo công dân mình không du lịch Philippines và ngừng nhập khẩu chuối từ nước này đột ngột, khiến nhiều nông dân phá sản. Trong lúc cộng đồng quốc tế hướng sự chú ý về diễn biến thương mại nói trên, Trung Quốc lặng lẽ chiếm quyền kiểm soát bãi cạn.

Hành động trả đũa thương mại vì THAAD không phải là lần đầu Trung Quốc nhắm vào Hàn Quốc. Hồi năm 2000, Seoul tăng thuế nhập khẩu đối với tỏi Trung Quốc để bảo vệ nông dân trong nước và Bắc Kinh đáp trả bằng việc cấm nhập khẩu điện thoại và nhựa của Hàn Quốc. Trả đũa nhằm vào các sản phẩm không liên quan của đối phương không chỉ giúp Trung Quốc thúc đẩy các ngành công nghiệp trong nước mà còn bảo đảm Hàn Quốc phải chịu thiệt hại nhiều hơn.

Trung Quốc sẽ không dùng biện pháp này trong trường hợp có thể mất mát nhiều hơn, như cuộc đối đầu giữa quân đội Trung Quốc và Ấn Độ tại khu vực biên giới hiện nay. Do đó, thay vì ngừng giao dịch thương mại vùng biên - động thái có thể khiến Ấn Độ trả đũa bằng kinh tế, Trung Quốc chặn đường của người hành hương Ấn Độ đến những khu vực linh thiêng ở Tây Tạng.

Trong trường hợp vượt trội về thương mại, Trung Quốc không ngần ngại ra tay. Một nghiên cứu năm 2010 cho thấy kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sang Trung Quốc của các nước có lãnh đạo gặp Đạt Lai Lạt Ma đã giảm nhanh chóng với mức 8,1%-16,9%. Kết quả, hầu hết quốc gia, trừ Ấn Độ và Mỹ, đã tránh gặp chính thức lãnh đạo tinh thần này.

Thực tế là Trung Quốc đang trở thành một "bạo chúa" thương mại bất chấp các quy tắc quốc tế. Các vi phạm của Bắc Kinh bao gồm duy trì những rào cản phi thuế quan để kìm hãm cạnh tranh nước ngoài, hỗ trợ xuất khẩu, ưu ái doanh nghiệp trong nước, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, lạm dụng luật chống độc quyền và thu mua công ty nước ngoài để đem công nghệ của họ về nước.

Trung Quốc thậm chí còn xem các hiệp định song phương là công cụ để đạt được mục tiêu. Theo quan điểm của Bắc Kinh, không hiệp định nào có hiệu lực trừ khi nó phục vụ cho mục đích trước mắt.

Trớ trêu thay, Trung Quốc đã phát triển sức mạnh thương mại với sự giúp đỡ từ Mỹ, quốc gia đóng vai trò chủ chốt trong sự tăng trưởng kinh tế của Bắc Kinh bằng cách dỡ bỏ các lệnh trừng phạt và giúp nước này hội nhập vào các thể chế toàn cầu.

Việc ông Donald Trump đắc cử tổng thống Mỹ từng được cho là sẽ chấm dứt kiểu thương mại bắt nạt của Trung Quốc. Tuy nhiên, chẳng những không có bất kỳ động thái nào chống lại quốc gia mà ông Donald Trump từ lâu chỉ trích là gian lận thương mại, tổng thống Mỹ còn giúp đưa Trung Quốc vĩ đại trở lại, trong đó có việc rút Mỹ khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và giảm ảnh hưởng của Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương.

Cần hồi sinh TPP

TPP có thể kiềm chế tham vọng thương mại vô hạn của Trung Quốc bằng cách tạo ra một cộng đồng kinh tế vận hành theo thị trường và chơi theo luật. Nhưng để TPP thật sự phát huy hiệu quả trước Trung Quốc, hiệp định này cần sự tham gia của Ấn Độ và Hàn Quốc.

Đến nay, hành động vũ khí hóa thương mại của Trung Quốc chưa hề bị thách thức. Chỉ có một chiến lược quốc tế phối hợp, mà trong đó hồi sinh TPP là yếu tố chủ chốt, mới đủ sức buộc các nhà lãnh đạo Trung Quốc phải tuân thủ luật chơi thương mại.

XUÂN MAI (Lược dịch từ báo Japan Times)