Bộ trưởng Bùi Quang Vinh: Đổi mới chính trị đồng bộ với đổi mới kinh tế là yêu cầu hết sức cấp bách
Bộ trưởng Bùi Quang Vinh: Đổi mới chính trị đồng bộ với đổi mới kinh tế là yêu cầu hết sức cấp bách

Sáng nay 22-1, tại phiên thảo luận về văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam (Đại hội XII), Bộ trưởng Kế hoạch - Đầu tư (KH-ĐT) Bùi Quang Vinh đã có bài tham luận nêu rõ trong giai đoạn tới, việc đổi mới chính trị đồng bộ với đổi mới kinh tế là yêu cầu hết sức cấp bách.

Ông Bùi Quang Vinh nêu rõ Đại hội XII đánh dấu 85 năm ngày thành lập Đảng, hơn 40 năm đất nước hòa bình, thống nhất, tròn 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đưa Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới thành một nước có thu nhập trung bình. Từ 1986 đến nay, thu nhập bình quân đầu người đã tăng 4 lần, tỉ lệ hộ nghèo giảm từ 95% xuống còn dưới 5%.

Những thành tựu của công cuộc đổi mới là không thể phủ nhận, đó là cũng là nguyên nhân giúp Việt Nam vượt qua thách thức trong hơn 30 năm qua. “Tuy nhiên, Việt Nam hiện vẫn là một nước nghèo. Chúng ta chưa bằng lòng, thỏa mãn với những gì đạt được. Nhất là khi nhìn lại mình trong tương quan nước bên cạnh có cùng điều kiện” - ông Vinh nói.

Đổi mới chính trị - Điều kiện tiên quyết của sự phát triển

Trở lại dòng chảy lịch sử từ đầu thế kỷ XIX, vào năm 1820, Việt Nam đã có vị thế rất đáng nể trong khu vực về dân số cũng như quy mô kinh tế, lớn hơn cả Philippines và Myanmar gộp lại, gấp hơn 1,5 lần Thái Lan, thu nhập bình quân đầu người khi đó xấp xỉ mức trung bình của thế giới. Hiện nay, theo số liệu 2014, thu nhập bình quân đầu người của nước ta chỉ bằng 1/5 mức trung bình của thế giới, với khoảng 2.052 USD/gần 12.000 USD của bình quân thế giới, chỉ bằng hơn 1/3 thu nhập bình quân của Thái Lan.

“Vẫn biết mọi sự so sánh khập khiễng, vì Việt Nam đã phải trải qua nhiều cuộc chiến chống xâm lược, thống nhất đất nước nhưng chúng ta đã có 40 năm sống trong hòa bình độc lập, 30 năm đổi mới. Đây là quãng thời gian dài tương đương quốc gia lân cận như Hàn Quốc, Nhật Bản, đưa đất nước mình từ nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu trở thành quốc gia có kinh tế phát triển. Vì vậy, yêu cầu đổi mới cấp bách hơn bao giờ hết” - ông Vinh trăn trở.

Về lợi thế đất nước, người đứng đầu ngành KH-ĐT cho biết Việt Nam đang trong cơ hội ngắn ngủi còn lại của dân số vàng và có thể kéo dài đến năm 2025. Bên cạnh đó, động lực từ công cuộc đổi mới trước đây mang lại đang dần ít phát huy tác dụng. Trong khi đó, dư địa cho tăng trưởng dựa trên tăng vốn đầu tư, lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên khoáng sản cũng không còn nhiều lợi thế. Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, chúng ta chấp nhận hội nhập tức là chấp nhận cạnh tranh. Do đó nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế là một đòi hỏi có ý nghĩa sống còn.

Từ những lý do trên, Bộ trưởng Bùi Quang Vinh khẳng định: “Việt Nam phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn nữa, hiệu quả hơn nữa nếu không muốn tụt lại phía sau, nếu không muốn nền kinh tế trì trệ kéo dài, rơi vào bẫy thu nhập trung bình thấp”.

Ông Bùi Quang Vinh đưa các Đại biểu trở lại Đại hội XI, cách nay tròn 5 năm, khi Đại hội thông qua chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, tại trang 99 nêu rõ: “Phải kiên trì và quyết liệt thực hiện đổi mới, đổi mới chính trị phải đồng bộ đổi mới kinh tế theo lộ trình thích hợp, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mở rộng dân chủ trong Đảng và trong xã hội”.

Nghị quyết của Đại hội XI cũng khẳng định phải lấy việc thực hiện mục tiêu này làm tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá hiệu quả của quá trình đổi mới và phát triển.

Theo ông Vinh, thực tế 5 năm qua, đất nước đã tích cực đổi mới thể chế kinh tế và đạt một số kết quả nhất định nhưng đổi mới về chính trị thì hầu như chưa làm. Chính vì vậy, công cuộc đổi mới trong 5 năm qua chưa thực sự đem lại hiệu quả như mong muốn. 70 năm qua, cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động của bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể các cấp trong hệ thống chính trị gần như không thay đổi.

Bộ trưởng Bùi Quang Vinh nhấn mạnh: “Một hệ thống chính trị phù hợp với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây, đặc biệt trong hoàn cảnh chiến tranh, nay không còn phù hợp nền kinh tế thị trường, thậm chí còn là rào cản, trở ngại cho sự phát triển. Vì vậy, giai đoạn tới, việc đổi mới chính trị đồng bộ với đổi mới kinh tế là yêu cầu hết sức cấp bách. Đảng là người lãnh đạo cao nhất đất nước, cần chủ động nghiêm khắc đánh giá lại chính mình, thực hiện nghiêm chỉnh những nghị quyết mà Đại hội Đảng toàn quốc quyết định, kiên quyết đổi mới cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ, phương thức hoạt động của bộ máy Đảng, Nhà nước, các đoàn thể chính trị để hoạt động hiệu quả hơn, thực chất hơn. Đây là nhân tố tiên quyết, quan trọng nhất cho quá trình đổi mới tiếp theo”.

Các đại biểu tại phiên thảo luận về văn kiện Đại hội XII ngày 22-1
Các đại biểu tại phiên thảo luận về văn kiện Đại hội XII ngày 22-1

Ông Vinh cho rằng làm tốt điều này, Đảng sẽ lấy lại niềm tin trong nhân dân bằng tấm gương tự đổi mới và sự lãnh đạo hiệu quả của mình đối với đất nước, dân tộc.

Xem vị thế doanh nghiệp là vị thế quốc gia

Về đổi mới thể chế kinh tế - trọng tâm đổi mới giai đoạn tới, theo Bộ trưởng Bùi Quang Vinh, cần dựa trên 3 trụ cột chính. Thứ nhất, thịnh vượng kinh tế phải đi đôi với bền vững môi trường. Cụ thể, Việt Nam phải có mức tăng trưởng cao và ổn định liên tục trong 20 năm tới với mức tăng thu nhập bình quân đầu người hằng năm 7%, nghĩa là tương đương mức tăng trưởng GDP hằng năm 8%.

Để đến năm 2035 đạt mục tiêu mức thu nhập bình quân đầu người từ 15.000 - 18.000 USD, con đường duy nhất là tăng năng suất như nhà kinh tế học đạt giải Nobel Kinh tế Paul Kruman đã tổng kết “năng suất không phải là tất cả nhưng về lâu dài, nó gần như là tất cả”. Trong khi đó, mức tăng năng suất lao động Việt Nam liên tục sụt giảm từ cuối những năm 1990 đến nay, khiến năng suất lao động Việt Nam ở mức rất thấp so với các quốc gia trong khu vực. Thậm chí, năng suất lao động ở khu vực kinh tế tư nhân đang liên tục sụt giảm và ở mức rất thấp.

Cùng với đó, phải tập trung cao độ, thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp trong nước, mà chủ yếu chính là doanh nghiệp tư nhân, cả chất lượng và số lượng, coi đây là nhiệm vụ của bộ máy nhà nước các cấp. Sức khỏe của doanh nghiệp trong nước chính là sức khỏe nền kinh tế. Đồng thời, phải thúc đẩy mạnh mẽ tinh thần khởi nghiệp, Nhà nước phải tạo môi trường thuận lợi, xây dựng những trung tâm hướng dẫn và đào tạo doanh nghiệp khởi nghiệp, cung cấp kiến thức cũng như nguồn vốn qua quỹ, ngân hàng đầu tư mạo hiểm, nhằm tạo ra làn sóng khởi nghiệp mạnh mẽ trong toàn xã hội, xem vị thế doanh nghiệp là vị thế quốc gia.

Thứ hai là công bằng xã hội, hay còn gọi là bình đẳng cho mọi người. Phải xây dựng chính sách đảm bảo công bằng trong phát triển cũng như cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản cho mọi người dân, nhất là những đối tượng yếu thế thiệt thòi trong xã hội. Đây cũng chính là ưu việt của chủ nghĩa xã hội, cũng là trách nhiệm của Nhà nước trong thực thi nền kinh tế thị trường định hướng XHCN…

Thứ ba là phải nâng cao năng lực và trách nhiệm giải trình của Nhà nước. Cụ thể, năng suất lao động trì trệ hiện nay và môi trường yếu kém trong phát triển khu vực tư nhân do Nhà nước quản lý thiếu hiệu quả, những thiết chế công bị thương mại hóa, cát cứ, manh mún, thiếu sự giám sát của người dân…

Ông Vinh phân tích: Hiệu lực của Nhà nước dựa trên 3 trụ cột hỗ trợ. Chính phủ được tổ chức với công chức thực tài, có kỷ luật, phải nỗ lực xử lý các vấn đề, tạo ra một cấu trúc Nhà nước chặt chẽ hơn, mạnh mẽ hơn. “Nguyên tắc thị trường cần phải được áp dụng đầy đủ hơn trong hoạch định chính sách kinh tế, trên cơ sở phân định rõ công và tư, hạn chế xung đột lợi ích, tăng cường bảo vệ quyền tài sản, đặc biệt về đất đai, thực thi cạnh tranh thị trường và hợp lý hóa sự tham gia của Nhà nước trong nền kinh tế” - ông Vinh quả quyết.

Bên cạnh đó, theo “tư lệnh” ngành KH-ĐT, cần nâng cao hơn nữa trách nhiệm giải trình thông qua cơ chế hữu hiệu, kiểm soát và cân bằng giữa 3 nhánh quyền lực, tạo dựng khuôn khổ pháp lý thúc đẩy quyền công dân, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin chính xác, kịp thời của công dân, tăng cường vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng.

Khuôn khổ pháp lý của Việt Nam đã tạo không gian nhất định cho công dân tham gia vào quá trình quản trị Nhà nước. Nhà nước của dân, do dân, vì dân, dân biết - dân bàn - dân làm - dân kiểm tra là những điều khẳng định rõ trong Hiến pháp nhưng thực tế vẫn còn tồn tại khoảng cách với thực tiễn tham gia của công dân trong quản trị Nhà nước. Quy trình bầu cử, cơ chế cho sự tham gia của các tổ chức xã hội chưa thực sự bảo đảm tính đại diện đích thực của người dân.

Thế Phạm