. Phóng viên: Cơ duyên nào đã đưa một chàng trai Huế đến với niềm đam mê vật lý, thưa giáo sư?
- GS Trương Nguyên Trân: Năm 1953, tôi đã tham gia một kỳ thi toàn quốc về vật lý và may mắn đoạt giải ba. Kỳ thi ấy không có giải nhất, đoạt giải nhì là một người mà sau này cũng rất nổi tiếng, GS Đàm Trung Đồn.
Giải ba kỳ thi ấy đã giúp tôi có một học bổng của vua Bảo Đại đi học kỹ sư điện tại một trường ĐH Mỹ, đó là Trường CalTech (California Institue of Technology). Sau đó là hoàn thành luận án tiến sĩ về vật lý lý thuyết tại Trường Cornell University of New York dưới sự hướng dẫn của giáo sư Hans A. Bethe (Nobel Vật lý 1967), làm Post Doc tại Institute for Advanced Study của Princeton và Columbia University. Tôi tham gia giảng dạy tại ĐH Brown với học vị phó giáo sư đến năm 1968, sau đó chuyển sang Pháp.
. Được đào tạo tại Mỹ và sau đó cũng giảng dạy tại Mỹ, tại sao giáo sư lại quyết định sang Pháp?
- Vị trí của tôi tại ĐH Brown là một vị trí vĩnh viễn, nhưng tôi đã từ bỏ, điều ấy gây ngạc nhiên cho rất nhiều người. Thông thường, người ta thường đi từ Pháp sang Mỹ, còn tôi thì làm ngược lại. Bỏ Mỹ sang Pháp là bỏ đi nhiều cơ hội, bỏ đi những điều kiện làm việc tuyệt vời. Nhưng tôi ghét cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, và tôi tin quyết định ấy tốt cho quê hương mình. Sự ra đi của tôi khiến một số người bạn thân, những giáo sư rất giỏi làm việc trong Viện Quốc phòng Mỹ, băn khoăn tự hỏi tại sao tôi lại ra đi như thế, có phải vì cuộc chiến tranh Việt Nam không?
Từ năm 1969, tôi làm việc tại CPHT - Ecole Polytechnique và sáng lập ra nhóm hạt cơ bản ở trung tâm này. Sau này, thú thực, khi nghề nghiệp gặp nhiều trở ngại, tôi đã băn khoăn khá nhiều về quyết định đến Pháp của mình.
. Và tình yêu quê hương có phải là lý do giáo sư trở lại Việt Nam, ngay khi đất nước được thống nhất?
- Cuối năm 1976, với lời mời của GS Nguyễn Văn Hiệu, người có chung mối quan tâm với tôi về vật lý lý thuyết, tôi trở về Viêt Nam, gặp nhiều nhà khoa học như GS Tôn Thất Tùng, GS Nguyễn Văn Hiệu... Hồi ấy đất nước mới giải phóng, kinh tế rất khó khăn, điều kiện quá thiếu thốn nên chúng tôi chưa làm việc với nhau được. Năm 1978, khi đi dự hội nghị Tokyo, tôi lại ghé thăm Việt Nam lần nữa nhưng cũng không thể làm gì hơn ngoài việc giúp các nhà khoa học Việt Nam sang Pháp. Năm 1990, GS Trần Hữu Phát ở Viện Vật lý mời tôi về Việt Nam lần nữa. Lần trở về này, tôi cảm nhận được sự đổi thay của Việt Nam và sự hợp tác giữa hai bên bắt đầu được thúc đẩy. Nhiều năm nay, gần như năm nào tôi cũng về Việt Nam để tăng cường sự hợp tác ấy.
. Có bao giờ giáo sư muốn về ở hẳn và làm việc tại Việt Nam?
- Điều này rất khó, vì tôi thấy cách làm việc trong ngành vật lý Việt Nam không được như sự mong muốn của mình. Ở bên toán, chủ trương đánh giá về khoa học rất rõ ràng, họ rất cởi mở và ngành toán học ở Việt Nam hiện nay rất tốt, kéo được nhiều người về làm việc. Còn bên vật lý, có những người giỏi, hằng năm có nhiều bài khảo cứu trên những tạp chí có tiếng tăm trên thế giới thì lại chưa được công nhận giáo sư. Tôi nói riêng đến anh Nguyễn Bá An ở Viện Vật lý Hà Nội. Anh An được coi là người giỏi nhất về vật lý lý thuyết hiện nay của Việt Nam, mỗi năm có từ 5-10 bài báo công bố trên những tạp chí lớn của thế giới thế nhưng chẳng hiểu sao ở Việt Nam thì anh ấy lại không được công nhận. Trường hợp này, tôi đã có thư riêng gửi đến Phó Thủ tướng - Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân...
Thực lòng mà nói, tôi luôn canh cánh một lòng góp phần giúp đỡ nền giáo dục và sự phát triển khoa học Việt Nam. Những năm 90 của thế kỷ trước, khi trở về Việt Nam, tôi thấy điều kiện học tập của sinh viên rất hạn chế. Trước khi Trường Polytechnique mở rộng ra phạm vi quốc tế để nhận sinh viên nước ngoài, tôi đã tìm học bổng Nishina cho nhiều nhà khoa học trẻ khác sang nghiên cứu tại Nhật Bản. Một người bạn Hàn Quốc cũng đã mời tôi tham gia thành phần ban giám khảo của quỹ giáo dục Việt Nam tại Mỹ nhằm tuyển chọn những tài năng sang Mỹ đào tạo.
. Nhìn lại cuộc đời khoa học của mình, điều gì làm giáo sư cảm thấy hài lòng nhất?
- Hài lòng ư? Có lẽ như tôi đã nói, đó là giúp được các sinh viên tài năng Việt Nam đi học nước ngoài để sau này cống hiến nhiều hơn cho đất nước. Đến giờ đã có trên 100 sinh viên Việt Nam đã hoặc đang học theo chương trình đào tạo tại Polytechnique. Cái tên Polytechnique đã trở nên quen thuộc không chỉ với các lớp chuyên phổ thông mà còn được phổ biến rộng rãi tại các trường ĐH lớn. Chúng ta có thể hỏi kết quả như thế nào? Bây giờ có lẽ còn quá sớm để trả lời câu hỏi này một cách chính xác, nhưng những thành tích đầu tiên cho ta thấy đây là một chương trình thành công và sau này có thể giúp Việt Nam trong việc xây dựng đất nước. Nhiều sinh viên Việt Nam sau khi tốt nghiệp Polytechnique đã được chọn làm tiến sĩ ở nhiều trường nổi tiếng.
. Vậy còn những điều giáo sư trăn trở?
- Có một điều tôi suy nghĩ rất nhiều và cũng đã gửi thư cho Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, đó là phải cải tiến nền giáo dục ĐH Việt Nam. Giáo dục ĐH Việt Nam phải thay đổi mạnh mới mong tiến lên được. Theo tôi, giải pháp kết quả nhất, tiết kiệm nhất chính là đưa những tài năng trẻ được đào tạo ở nước ngoài gần đây về phục vụ đất nước. Để có thể thu hút đội ngũ khoa học trẻ Việt Nam, cần tạo ra các trường ĐH đẳng cấp quốc tế. nhưng trong điều kiện việc thành lập các trường này còn nhiều khó khăn, theo tôi nên tìm ra một mô hình phù hợp. Đó là thành lập Viện Millenium Sciences Intiatives (MSI) với một kinh phí phù hợp cùng một hội đồng quản trị gồm những nhà khoa học quản lý trong nước và quốc tế uy tín. Những năm đầu hoạt động, kinh phí của chương trình không nhiều, chỉ vài triệu USD mỗi năm. Tôi tin là nếu không thành lập được những tổ chức có trình độ cao, một phần lớn những nhà nghiên cứu trẻ và tài năng sẽ tiếp tục ở lại nước ngoài nghiên cứu. và như thế, trình độ nghiên cứu khoa học trong nước sẽ không thể phát triển mạnh.
Bình luận (0)