Đầy nguy hiểm, cam go
Trong căn nhà nhỏ trên đường Đặng Tất, phường Vĩnh Hải, TP Nha Trang - Khánh Hòa, cựu binh Trần Ngọc Tuấn bồi hồi nhớ về một thời lửa đạn trên con đường huyền thoại năm nào mà ông và hàng trăm đồng đội đã trải qua. Nhiều năm làm chính trị viên các tàu không số, ông cùng đồng đội đã tổ chức 9 chuyến vượt biển vận chuyển vũ khí vào Quảng Ngãi, Bà Rịa - Vũng Tàu và Trà Vinh. Trong đó, có 2 chuyến tàu đặc biệt phục vụ chiến dịch Bình Giã và chiến dịch Mậu Thân 1968.
Sau khi tập kết ra Bắc, ông Tuấn được cử đi học ở Trường Sĩ quan Lục quân, tiếp đó là Trường 45 Hải quân. Năm 1963, ông được phân công về Đoàn 759. Khoảng thời gian này, đánh hơi được tuyến đường vận chuyển vũ khí của ta trên biển, địch thành lập lực lượng đặc nhiệm, huy động Hạm đội 7 và hải quân quân đội Sài Gòn với nhiều phương tiện hiện đại ngày đêm lùng sục, ngăn chặn, đánh phá nên hành trình của Đoàn tàu không số đầy nguy hiểm, cam go.

“Lúc này, Trung ương chỉ thị cho miền Nam mở chiến dịch tiêu diệt một bộ phận quan trọng của quân chủ lực quân đội Sài Gòn để mở rộng vùng giải phóng, chiến trường chính là miền Đông Nam Bộ, Trung Trung Bộ và Tây Nguyên. Binh chủng Hải quân giao trọng trách cho Tàu 56 thuộc Đoàn tàu không số do anh Lê Quốc Thân làm thuyền trưởng và tôi làm chính trị viên cùng 15 cán bộ, chiến sĩ vận chuyển vũ khí chi viện chiến dịch” - ông Tuấn nhớ lại.
Tối 18-12-1964, Tàu 56 được lệnh xuất phát từ Hải Phòng mang theo 44 tấn vũ khí. Sau mười mấy ngày đêm, Tàu 56 bắt được tín hiệu từ ngọn hải đăng Bảy Cạnh - Vũng Tàu. Lúc đó, trời nổi gió dữ dội, sóng rất lớn đã trở thành cơ hội để tàu luồn lách vượt qua các tuyến phong tỏa của hải quân địch. Đến 21 giờ ngày 22-12-1964, tàu đến cạnh cửa sông Lộc An. Thuyền trưởng Thân cho kiểm tra lại vị trí bến lần nữa rồi ra lệnh phát tín hiệu. Tuy nhiên, tín hiệu phát đi mấy lần vẫn không thấy trong bờ trả lời, thậm chí 2 chiến sĩ được cử bơi vào bắt liên lạc cũng bặt tăm.
Sau nhiều giờ căng thẳng, chính trị viên Tuấn và thuyền trưởng Thân hội ý rồi quyết định cho tàu tiếp tục vào bến, thận trọng từng mét một… Đến 22 giờ 30 phút, tàu cập bến an toàn. Lúc này cả đoàn mới biết trinh sát của bến vẫn đón tàu hằng đêm nhưng hôm ấy, do thấy tàu 56 lớn quá, nghĩ rằng không thể là tàu ta nên họ không dám phát tín hiệu; thậm chí 2 chiến sĩ được cử vào bờ liên lạc cũng bị bắt vì nghi là quân báo địch. “Số vũ khí tàu 56 chi viện đã góp phần vào thành công của chiến dịch Bình Giã”- ông Tuấn tự hào.
Cuộc chia ly khó phai
Năm 1968, Đoàn 759 giao nhiệm vụ cho tàu không số mang số hiệu 43 gồm 17 cán bộ, chiến sĩ do thuyền trưởng Nguyễn Đắc Thắng và chính trị viên Trần Ngọc Tuấn chỉ huy chở 37 tấn vũ khí vào Đức Phổ - Quảng Ngãi chi viện.
Tối 27-2-1968, Tàu 43 nhận lệnh xuất bến. Để che mắt địch, tất cả phải đóng giả ngư dân. Lòng vòng suốt 3 ngày đêm, cuối cùng tàu cũng vào được vùng biển Quảng Ngãi. Khoảng 1 giờ ngày 1-3-1968, khi còn cách bờ chừng 20 hải lý, Tàu 53 bị 4 tàu chiến địch bao vây. Chúng đồng loạt bắn pháo sáng rực cả một vùng biển, sau đó nã đạn tới tấp vào tàu ta rồi khép dần vòng vây hòng bắt sống tất cả.
Thuyền trưởng Thắng ra lệnh tiêu hủy hết tài liệu rồi khai hỏa chiến đấu. Ngay loạt đạn phản công đầu tiên của ta, một tàu địch bốc cháy, 2 chiếc trúng đạn. Lúc này, máy bay địch xuất hiện, vãi đạn xuống như mưa. Mặt biển như sôi lên vì đạn, pháo, cả một góc trời cũng đỏ rực vì khói lửa. “Lúc này, anh Thắng và tôi vừa chỉ huy chiến đấu vừa ra lệnh tiếp tục lao tàu vào bờ. Sau hơn 3 giờ chiến đấu, ta đã bắn rơi 3 máy bay HU-1A, bắn cháy 1 tàu chiến, làm hư hại 2 chiếc. Tuy nhiên, do cuộc chiến không cân sức, không còn cách nào khác, thuyền trưởng Thắng ra lệnh khiêng tử sĩ, thương binh lên bờ rồi hủy tàu”- ông Tuấn hồi tưởng.
Những ngày sau đó, các chiến sĩ tàu 43 được dân quân xã Phổ Hiệp, huyện Đức Phổ sơ cứu, che giấu. Ông Tuấn bồi hồi: “Chúng tôi được du kích địa phương cáng lên bệnh xá của bác sĩ Đặng Thùy Trâm nhưng hai lần đều gặp địch phải quay lại, đến lần thứ ba mới tới được. Tôi sống được là nhờ Thùy Trâm và bệnh xá của chị cùng người dân Đức Phổ”.
Ông Tuấn không thể quên giây phút đoàn chiến sĩ Tàu 43 chia tay bệnh xá để vượt Trường Sơn trở lại đơn vị. “Hôm ấy là ngày 10-4-1968. Tôi là người cuối cùng lên đường. Lúc ấy, Thùy Trâm nắm chặt tay tôi thật lâu, nhẹ nhàng nói: “Các anh lên đường bình an. Hẹn một ngày gặp lại ở miền Bắc thân yêu”. Thùy Trâm bật khóc khiến chúng tôi cũng cảm thấy nghẹn lòng” - giọng ông Tuấn chợt chùng xuống…
Chiến tranh đã lùi xa nhưng ký ức về một thời khói lửa vẫn còn nguyên vẹn trong người chính trị viên tàu không số năm xưa.
Không rời tay lái Trong trận chiến không cân sức trên vùng biển Đức Phổ - Quảng Ngãi ngày 1-3-1968, 3 chiến sĩ Tàu 43 đã hy sinh, 11 người khác bị thương. “Đến giờ, tôi vẫn không bao giờ quên hình ảnh anh Ruệ lái tàu bị thương nặng, ngã xuống cabin nhưng tay vẫn ghì chặt bánh lái để giữ cho tàu lao đúng hướng vào bờ. Anh đã trút hơi thở cuối cùng trên tay tôi”- ông Trần Ngọc Tuấn xúc động.
Bình luận (0)