Sau 5 năm triển khai, các nhà khoa học thuộc Chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp nhà nước lĩnh vực y dược (KC.10) đã nghiên cứu ứng dụng thành công nhiều kỹ thuật công nghệ y học tiên tiến.
Làm chủ kỹ thuật ghép tạng
GS-TS Phạm Gia Khánh, Chủ nhiệm Chương trình KC.10, cho biết một trong những ứng dụng y học thành công nhất của chương trình là Việt Nam đã làm chủ kỹ thuật ghép tạng. Năm 1954, lần đầu tiên trên thế giới có ca ghép tạng thành công; 50 năm sau, đã thực hiện thành công hàng ngàn ca ghép tạng, bao gồm cả ghép tim, gan, tụy, thận.
“Năm 2010, chúng ta có kỹ thuật lạc hậu so với thế giới khoảng 20 - 50 năm vì chưa ghép được phổi, tụy; chưa lấy được tạng từ người cho chết tim ngừng đập và vấn đề ghép đa tạng. Chương trình KC.10 giai đoạn 2011-2015 đã xây dựng 3 nhiệm vụ khoa học về ghép tạng. Nhờ hoàn thành 3 nhiệm vụ này, đến nay, kỹ thuật ghép tạng Việt Nam đã thực sự theo kịp thế giới và tạo bước đột phá cho thời gian tới” - ông Phạm Gia Khánh nhấn mạnh.

PGS-TS Nguyễn Tiến Quyết, nguyên Giám đốc Bệnh viện Việt Đức (Hà Nội) - một trong những trung tâm ghép tạng hàng đầu ở Việt Nam, khẳng định trong lĩnh vực ghép tạng, Việt Nam đã làm chủ các kỹ thuật phức tạp. Tính đến tháng 9-2015, đã thực hiện 1.100 ca ghép thận; 1 ca ghép tim, phổi; 1 ca ghép tụy thận và 13 ca ghép tim. “Trên thế giới, tỉ lệ bệnh nhân sống khỏe sau 5 năm ghép tạng lên tới 80%-90%. Còn tại Bệnh viện Việt Đức, bệnh nhân đầu tiên được ghép gan từ năm 2007, hiện sức khỏe vẫn tiến triển tốt và đang sống tại Anh cùng con. Các bệnh nhân ghép thận, gan, tim cơ bản có cuộc sống khỏe mạnh, không phải phụ thuộc vào bệnh viện” - ông Quyết chia sẻ.
GS-TS Phạm Gia Khánh đánh giá ghép tạng không chỉ tiến bộ về mặt kỹ thuật mà cả về tổ chức. Trường hợp lấy đa tạng từ người cho chết não ở Bệnh viện Chợ Rẫy (TP HCM) vượt gần 2.000 km ra ghép ở Bệnh viện Việt Đức vừa rồi là một minh chứng. Ca ghép tạng xuyên Việt lịch sử của đội ngũ y - bác sĩ Việt Nam đã xóa nhòa khó khăn về khoảng cách địa lý và ranh giới của một bệnh viện.
Biến cái không thể thành có thể
Cũng theo GS-TS Phạm Gia Khánh, 55 công trình khoa học trong Chương trình KC.10 đã có những đóng góp đáng kể vào thành tựu y học hiện nay, biến những cái không thể thành có thể. Đơn cử là sự tiến bộ từ phẫu thuật mở sang thực hiện phẫu thuật nội soi 3-4 lỗ, rồi tới “1 cửa” (3-4 dụng cụ chỉ luồn qua 1 lỗ ở rốn) và đỉnh cao là phẫu thuật qua lỗ tự nhiên (qua miệng, hậu môn, mũi, âm đạo) không có sẹo, không tạo thương tổn. Đặc biệt, phẫu thuật qua lỗ tự nhiên ngay cả thế giới cũng rất ít thực hiện.
Đề tài nghiên cứu “Ứng dụng phẫu thuật nội soi trong trị bệnh lý tuyến giáp” của PGS-TS Trần Ngọc Lương, Giám đốc Bệnh viện Nội tiết trung ương, đã góp phần đưa chuyên ngành phẫu thuật nội soi điều trị các bệnh lý tuyến giáp của Việt Nam lên hàng đầu khu vực, đồng thời khẳng định vị thế của các nhà khoa học Việt Nam trong “bản đồ” y học thế giới. Đã có hàng trăm bác sĩ từ các nước đến học tập kỹ thuật nội soi “made in Dr Lương”.
Theo GS-TS Phạm Gia Khánh, từ Chương trình KC.10, các kỹ thuật y học hạt nhân hiện đại như PET/CT, dao gamma quay, Cyberknife... đã giúp các bác sĩ đỡ sai lầm hơn, nhất là trong ứng dụng chẩn đoán tim mạch, điều trị ung thư; giúp điều trị hiệu quả cho người dân, rẻ tiền, nhanh khỏi bệnh và đỡ biến chứng hơn. Với kết quả này, rất nhiều người bệnh không phải đi nước ngoài chữa trị.
Phát triển kỹ thuật tiên tiến
Theo ông Phạm Công Tạc, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, thế giới biết đến khoa học của Việt Nam nhờ 2 lĩnh vực là khoa học cơ bản và y học. Tên tuổi các giáo sư, bác sĩ của Việt Nam được nhiều nước trên thế giới biết đến. “Chính vì thế, Bộ Khoa học và Công nghệ đang phối hợp với các chuyên gia đầu ngành xác định những vấn đề lớn cho các nghiên cứu phát triển khoa học - công nghệ y dược để người Việt Nam được hưởng những kỹ thuật tiên tiến nhất trên thế giới trong khám chữa bệnh” - ông Tạc khẳng định.
Bình luận (0)